Chọn vẽ những điều người phụ nữ hay tự ti, Đặng Văn Tứ, hay còn gọi là Tứ Rô, dùng toan và màu để nhắc rằng: đã là phái nữ, thì luôn đẹp theo những cách rất riêng. Những ‘khiếm khuyết’, sự từng trải và vẻ phồn thực trong tranh anh không nhằm phô bày, mà để tôn trọng và yêu thương.

Họa sĩ Đặng Văn Tứ (Tứ Rô) trong buổi trò chuyện. Nguồn: Artonis.
Hẹn gặp anh tại xưởng vẽ ở Cần Giờ, chúng tôi phần nào thấu được cái tính phóng khoáng, “chịu chơi” của người nghệ sĩ gốc Thái Bình đã chọn ở lại phương Nam. Từ một chàng sinh viên Mỹ thuật Công nghiệp bước chân vào Sài Gòn năm 2003, anh đi qua đủ những thử nghiệm, từ phong cảnh đến trừu tượng, trước khi thực sự “chạm” vào định mệnh của mình: những người nữ đã qua tuổi xuân thì. Có lẽ, cái chất “nghệ” rất đời của anh đã tìm được sự đồng điệu tự nhiên với không gian khoáng đạt nơi anh đang sống.
Q: Được biết anh vào Sài Gòn từ khá sớm, nhưng phải đến năm 2018 mới ra mắt triển lãm solo đầu tay Khát. Khoảng thời gian hơn 15 năm ấy có ý nghĩa thế nào trong việc định hình ngôn ngữ hội họa của anh?
Khi mới ra trường, vào Sài Gòn lập nghiệp, tôi cũng vẽ nhiều lắm. Có lúc vẽ phong cảnh, có lúc vẽ trừu tượng, bán trừu tượng… nói chung là mỗi thể loại tôi đều chạm vào một chút, cũng có thăng trầm, lên xuống.
Nhưng phải đến khoảng năm 2017, khi tôi được một người bạn giới thiệu và gặp một cô gái cũng yêu nghệ thuật, thích vẽ, thì tôi mới thực sự chạm vào đề tài người phụ nữ. Tôi vẽ một series hoàn toàn về cô ấy, và đó cũng là lúc tôi nghĩ tới việc làm một triển lãm cá nhân. Khát là triển lãm tại Đồng Khởi năm 2018, chính là triển lãm solo đầu tiên của tôi.
Q: Nhiều họa sĩ khi khai thác những đề tài mang tính riêng tư thường chọn vẻ đẹp thanh xuân thuần túy, trong khi người phụ nữ trong tranh anh lại mang nét phồn thực, đôi khi bị “bóp méo” một cách chủ đích. Vì sao anh chọn góc nhìn này?
Tôi nghĩ điều đó sẽ tạo nên cái thuộc về mình nhất. Tôi không tập trung vào việc tả, cũng không cố gắng nhấn vào những khía cạnh quen thuộc của hình thể người phụ nữ.
Ở giai đoạn đầu, tôi có nghiên cứu khá kỹ về cơ thể người phụ nữ, nhưng sau đó tôi bắt đầu kết hợp nhiều yếu tố: một chút cổ điển, một chút hiện đại, thêm cảm xúc cá nhân vào đường nét và hình khối để tạo nên phong cách riêng. Trong tranh của tôi, mọi thứ đều mang tính mơ hồ, không có cái gì tròn trịa, rõ ràng tuyệt đối, mà thực và hư cứ lẫn vào nhau.
Tôi không vẽ xuân thì của người phụ nữ, tôi vẽ sự từng trải. Phụ nữ có nhiều giai đoạn trong đời, và giai đoạn “đẹp nhất” theo chuẩn mực thì đã có rất nhiều họa sĩ khai thác rồi. Tôi chọn một khía cạnh khác: những điều khiến người phụ nữ đôi khi mất tự tin như mông to, chân to, tai to, ngực to hay nhỏ.
Với tôi, chính những điều đó lại rất đẹp. Tôi cũng muốn người xem cảm nhận được vẻ đẹp ấy, vì các nàng vẫn cứ đẹp, trong mọi hình hài mà.

Một số tác phẩm thuộc Triển lãm Sắc Thân của họa sĩ. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.
Q: Đời sống hay nghệ thuật thường đề cao việc "tốt khoe xấu che", nhưng anh lại chọn làm biến dạng khuôn mặt, vốn là đặc điểm nhận dạng, để tôn vinh những đường nét hình thể. Đây có phải là cách anh tạo định nghĩa về sự nhận diện?
Tôi là chân đi mà (cười), thích bỏ màu vào cốp xe, balo rồi cứ thế lên đường. Đi nhiều, nhìn nhiều, gặp nhiều người, rồi về xưởng mới bắt đầu làm việc.
Trong lăng kính của tôi, sự nhận diện không nằm ở khuôn mặt, mà nằm ở tinh thần và những đường nét đặc trưng của người phụ nữ trong không gian mình đi qua. Khi bỏ đi những chi tiết diện mạo, tôi đẩy sự chú ý vào những phần vốn hay bị xem là “khuyết điểm”, biến chúng thành xúc cảm của mình.
Tôi không vẽ để nhận diện một người cụ thể nào, mà chỉ mượn cảm xúc từ người cho phép mình chọn làm mẫu. Đó cũng là cách tôi giữ trọn sự trân trọng với vẻ đẹp riêng ấy, mà không cần một nhân dạng rõ ràng.
Q: Từ khi ra mắt triển lãm solo đến nay, anh cảm nhận phản hồi của công chúng và giới chuyên môn đối với ngôn ngữ hội họa này như thế nào?
Ban đầu, nhiều người thấy lạ, thấy khác. Nhưng khi tôi đưa ra những lập luận, giải thích rõ hơn về góc nhìn của mình, thì công chúng cũng dần nghiêng về phía đó.
Có người nói: “Nhìn vậy mà lại hay, lại đẹp, nó có cái riêng.” Nhiều khi công chúng chưa nhìn ra được một góc đẹp nào đó, thì họa sĩ chính là người nhìn thấy trước và truyền tải lại cho họ. Với tôi, chỉ cần vậy là đủ.

Phác thảo dành cho năm 2026 của họa sĩ. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.
Q: Quay ngược thời gian một chút về những ngày đầu, hành trình của anh bắt đầu từ một cậu bé yêu vẽ tại Thái Bình cho đến khi trở thành họa sĩ gắn bó với Sài Gòn. Anh có thể chia sẻ thêm về điều này?
Tôi tên là Đặng Văn Tứ, mọi người hay gọi là Tứ Rô. Tôi sinh năm 1979, quê gốc ở Thái Bình. Tôi học Mỹ thuật Công nghiệp tại Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, tôi vào Sài Gòn, ban đầu chỉ là vào chơi, để xem Sài Gòn hoa lệ như thế nào thôi, nhưng rồi cũng có một cơ duyên là tôi gặp một tình yêu sét đánh. Thế là quyết định ở lại Sài Gòn cho tới bây giờ, hiện tại tôi sống ở Cần Giờ, cũng đi đi lại lại khắp nơi để làm việc.
Thực ra, tình yêu với hội họa đã có từ rất sớm, từ hồi tiểu học tôi đã thích vẽ rồi. Lớn lên thì cũng có nhiều giai đoạn lên xuống các kiểu, nhưng tình yêu với hội họa thì cứ lớn dần lên. Sau này tôi thi vào Mỹ thuật Công nghiệp, học khoa Đồ họa, xong dần qua Hội họa, và theo đuổi nghề cho đến tận bây giờ.
Q: Từng được đào tạo chuyên sâu về Đồ họa, một lĩnh vực đòi hỏi sự quy chuẩn và tính ứng dụng, vì sao anh chuyển hẳn sang tranh giá vẽ, liệu điều này có hỗ trợ hay gây hạn chế gì cho anh?
Thời điểm tôi học và làm đồ họa, lĩnh vực này ở Việt Nam chưa phát triển mạnh, nhưng trong quá trình làm việc, tôi nhận ra hội họa “ăn” vào mình rất nhiều, nên dần dần tôi chuyển hẳn sang tranh giá vẽ.
Đồ họa dạy tôi cách cảm nhận màu sắc và đặc biệt là tư duy lược giản hình khối. Khi làm logo, bìa sách hay catalogue, mọi thứ đều phải được cách điệu và tối giản. Tôi mang tinh thần đó vào hội họa: lấy nền tảng hàn lâm làm gốc, nhưng dùng tư duy đồ họa để “gọt giũa” hình và màu. Về kỹ thuật thì không khác nhiều, chỉ là góc nhìn của tôi đã thay đổi để tạo nên một phong cách riêng.

Khu vực xưởng và kho tranh được lưu trữ trên gác. Nguồn: Artonis.
Q: Khi nhìn vào những bức tranh anh thực hiện bằng bay (dao vẽ) trong vài năm trở lại đây, người ta thấy một sự mạnh mẽ, đôi khi là quyết liệt hơn hẳn sự mềm mại thông thường. Đó có phải là giai đoạn anh tìm thấy sự giải phóng cho cảm xúc?
Đúng vậy. Khoảng từ năm 2022, tôi bắt đầu dùng bay kết hợp với cảm xúc để nó thành những cú "bay" đầy trực giác. Có những bức tranh được vẽ ra khi tâm trí tôi hoàn toàn bị xâm chiếm bởi một không gian hay một bóng hình cụ thể. Ở xưởng của tôi, tranh cũ tranh mới nằm ngổn ngang, có những bức từ 10-15 năm trước vẫn còn nằm nguyên trong cuộn toan, đánh dấu từng giai đoạn tôi tự vấn và làm mới chính mình.
Tôi thường kết hợp cảm xúc của mình với không gian nơi mình đến. Ra biển thì kết hợp người phụ nữ với biển, với khí hậu, với môi trường ở đó. Những yếu tố đó ảnh hưởng trực tiếp đến phông nền, màu sắc và cảm xúc của bức tranh.
Lên Đà Lạt thì là hoa, núi, đồi, màu sắc thiên nhiên. Về đồng bằng hay những vùng nước nổi thì lại là một cảm xúc khác. Với tôi, chủ yếu vẫn là cảm xúc, hay nói thẳng ra là mình vay mượn cảm xúc của không gian và trải nghiệm ngay lúc tôi cảm nhận được thì sẽ phác thảo, rồi vẽ thôi.
Q: Anh có nhớ khoảnh khắc nào mình thực sự "vỡ" ra cái nghề này không? Hay đó là kết quả của việc cứ âm thầm làm mỗi ngày một chút?
Thật ra, mọi thứ cứ vỡ dần ra trong quá trình làm việc thôi. Mỗi ngày làm một chút, đến lúc nào đó tự nhiên thấy mình lớn lên, cái nghề nó ngấm vào mình lúc nào không hay.
Tôi cũng bị bí suốt. Những lúc như vậy, tôi coi như mình đang thiếu “vitamin vẽ”. Tôi không cố ngồi đó sửa, cũng không bỏ hẳn bức tranh, cứ để nó đấy rồi đi ra ngoài cà phê, đi lang thang đâu đó cho đầu óc thoải mái. Đi để nạp lại năng lượng, lấy thêm cảm xúc từ đời sống. Khi thấy “đủ” rồi, quay lại xưởng là vẽ được tiếp.
Có những bức tôi giữ lại chỉ để làm kỷ niệm, vì nó ghi dấu những giai đoạn mình từng loay hoay như thế.
Q: Trong bối cảnh nghệ thuật đương đại Việt Nam đang tìm cách bắt nhịp với thế giới, nhiều họa sĩ trẻ chọn cách vượt ra khỏi giới hạn tranh giá vẽ để thử nghiệm sắp đặt, trình diễn… Theo anh, với một họa sĩ tranh giá vẽ như anh, điều vẫn hợp thời không?
Bản chất của họa sĩ thì lúc nào cũng phải làm mới mình. Làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ. Tranh giá vẽ đôi khi không truyền tải hết được những gì mình muốn nói, nên việc mở rộng sang những hình thức khác như sắp đặt, biểu hiện hay trình diễn cũng là một cách để công chúng nhìn thấy thêm những khía cạnh khác của nghệ sĩ.
Với tôi, tranh của mình đến bây giờ là rất “mình”. Tôi cảm giác nó cũng hợp với đương đại. Màu sắc của tôi được giản lược rất nhiều, hệ thống màu không còn phức tạp, hình ảnh cũng được chọn lọc. Tôi thường đưa màu về trạng thái trung tính nhiều hơn, ít màu hơn, nên có lẽ vì thế mà nó phù hợp với tinh thần của thời điểm hiện tại.

Họa sĩ đang sáng tác một tác phẩm mới theo cảm xúc. Nguồn: Artonis.
Q: Khi đứng trong dòng chảy sôi động, đa chiều của mỹ thuật Việt Nam hiện nay, theo anh đâu là tâm thế hợp lý để một nghệ sĩ bước vào thị trường và đời sống nghệ thuật?
Theo tôi, nghệ sĩ phải không ngừng tìm tòi. Tìm tòi rất nhiều, thay đổi và chuyển hóa, từ màu sắc, đường nét cho tới hình khối. Chỉ khi liên tục nghiên cứu và chuyển hóa thì tác phẩm mới theo kịp được xu hướng hiện đại.
Hàn lâm vẫn rất quan trọng, vì nó tạo nền tảng về kỹ thuật và góc nhìn. Nhưng từ nền tảng đó, nghệ sĩ phải tiếp tục đào sâu, tiếp tục tìm kiếm thì mới có thể tạo ra những tác phẩm mang tinh thần của thời đại.
Q: Để kết thúc cái buổi trò chuyện này thì chúng tôi xin hỏi một câu cuối, trong hành trình bền bỉ đó, có một hình mẫu hay vị tiền bối nào mà anh coi là thần tượng để theo đuổi không?
Nói là thần tượng một ai đó để làm khuôn mẫu thì không hẳn. Tôi yêu quý và thích tranh của rất nhiều người, như Picasso, Van Gogh hay Dali... Tôi thích cách họ làm việc, cách họ tư duy về hệ thống màu sắc. Nhưng thích là một chuyện, còn để thần tượng và đi theo dấu chân của họ thì tôi không chọn. Trong nghệ thuật, điều thú vị nhất vẫn là được là chính mình, bằng cảm xúc và trải nghiệm riêng của bản thân thôi.
Cảm ơn những chia sẻ thú vị của anh!
