Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Họa sĩ đang hoàn thiện những tác phẩm mới tại xưởng. Nguồn: NNA Team.

Bùi Tiến Tuấn – Mơn lụa là, nhịp bước những “hình nhân” (Kỳ 2)

Có ai ngờ, người từng nhiều lần “đoạn tuyệt” với lụa để đi qua giấy dó, sơn dầu, acrylic, thậm chí cả sơn mài chưa tiện bày, lại chính là “Tuấn Lụa”. Danh xưng ấy khiến không ít người yêu tranh anh vừa quen vừa tiếc, bởi để hiểu đầy đủ và chuẩn xác về anh, cần mơn theo những “hình nhân chất liệu” và hành trình cầm cọ đã làm nên một “thị dân toàn thời gian” mang tên Bùi Tiến Tuấn.

Họa sĩ Bùi Tiến Tuấn bên tác phẩm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Họa sĩ Bùi Tiến Tuấn bên tác phẩm. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Lớp chồng những “hình nhân”

Bùi Tiến Tuấn hiếm khi kể về mình. Chỉ trong những buổi gặp gỡ thân tình, anh mới chia sẻ rằng mình đến với khoa Lụa bằng một tâm thế của sự tự ái thời trai trẻ. Khi thi vào Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM, anh không đủ điểm vào các khoa Sơn dầu hay Sơn mài, những “miền đất hứa” của sinh viên giỏi thời ấy. Lụa, vì thế, vừa là con đường phải đi, vừa là phép thử mà anh luôn nghi ngờ. Anh học lụa trong trạng thái vừa làm vừa dò xét chính mình. Cú “thất vọng tập hai” đến khi điểm tốt nghiệp không cao, hội đồng chấm chia đôi quan điểm. Nhưng chính sự không trọn vẹn ấy lại trở thành động lực buộc anh phải đi tiếp, phải làm họa sĩ cho bằng được.

Rời ghế nhà trường, Tuấn gần như đoạn tuyệt với lụa. Giữa nhịp sống đô thị cuộn lên từng ngày, lụa hiện ra quá chậm, quá kín, thậm chí bế tắc. Anh chuyển sang acrylic và sơn dầu, dấn thân hơn mười năm vào Hiện thực Biểu hiện. Những nhát cọ dày, mạnh, thô ráp như cách để cơ thể và cảm xúc kịp thở cùng thành phố. Triển lãm cá nhân đầu tiên năm 2007, Những hình nhân đường phố, đánh dấu một Bùi Tiến Tuấn hoàn toàn khác.

Một sáng tác thuộc loạt Hình nhân trên đường phố (2005), chất liệu sơn dầu trên canvas. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ.

Một sáng tác thuộc loạt Hình nhân trên đường phố (2005), chất liệu sơn dầu trên canvas. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ. 

Những nhân vật vô danh, chen chúc, méo mó giữa dòng giao thông, vừa xa lạ vừa ám ảnh. Dấu vết của một sinh viên khoa Lụa từng bị gán cho sự nhu mì gần như biến mất. Ở đó là một họa sĩ dữ dội, mượn nhịp xe, đèn đường và sự bất ổn của phố xá để nói về xã hội, về chính đời sống mình đang va chạm mỗi ngày. Dù nỗ lực, tranh sơn dầu vẫn khó sống giữa thị trường mỹ thuật Sài Gòn. Cho đến khi một người bạn cũ nhắc rằng anh từng vẽ lụa rất đẹp, câu hỏi hiện ra không còn là “có vẽ lụa lại hay không?”, mà là “phải vẽ gì đây?”.

Giữa những lần chần chừ muốn rời phố về Hội An hay do dự ở lại, một khoảnh khắc đời thường đã cho anh câu trả lời, đó là ngày con gái anh bước vào mẫu giáo. Từ đó, Sài Gòn không còn là nơi tạm trú khiến anh băn khoăn nữa; anh ở lại như một công dân thực thụ, để thành phố này thấm vào mình, từng chút một.

Những váy áo trong tủ đồ của vợ, những chất vải, phom dáng, màu sắc quen thuộc bỗng trở thành tín hiệu thị giác. Tuấn nhận ra trang phục phụ nữ chính là dấu mốc của dòng thời gian đang chảy. Và thế là những cô gái mang dáng dấp thời trang cuối thập niên 2000 bước lên lụa, không chỉ để làm đẹp, mà như một lời xác nhận rằng người họa sĩ này đang sống và hít thở, trong chính thời đại mình vẽ.

Lời nhận xét “Tuấn, mày sẽ nổi tiếng” của nhà phê bình Nguyễn Quân sau một buổi xem tranh tại nhà không chỉ là động viên cá nhân, mà như sự chứng nhận cho hướng đi mới của lụa trong bối cảnh đương đại. Triển lãm solo tại Gallery Tự Do bán được nửa phòng tranh, trở thành dấu mốc hiếm hoi khiến công chúng nhớ rằng lụa chưa từng lỗi thời, chỉ là đang chờ một cách nói khác.

Tác phẩm Chùa Cầu - Hội An quê tôi (2025), chất liệu màu nước, màu bột trên Giấy dó. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ

Tác phẩm Chùa Cầu - Hội An quê tôi (2025), chất liệu màu nước, màu bột trên Giấy dó. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ

Song song với lụa, anh không ngừng thử nghiệm đa chất liệu. Giấy dó xuất hiện trong các triển lãm nhóm tại L’Espace và những dự án cùng thế hệ. Ban đầu, đó chưa phải chất liệu trung tâm, nhưng lại giúp anh rèn luyện sự nhạy cảm của nét và sắc. Khi đã định vị tên tuổi với Lụa (2009) và Phù phiếm (2011), việc quay lại giấy dó trong Sợi chỉ đỏ (2013) hay Hội An hoài niệm (2015) không phải bước lùi, mà là một vòng quay cần thiết.

Giấy dó, với độ thấm và mong manh, buộc anh tiết chế và kiểm soát nhịp điệu thị giác. Để rồi khi trở lại lụa, mọi thứ trở nên tinh tế và tự do hơn. Triển lãm Một hành trình kỷ niệm 30 năm nghề, với hơn 90 tác phẩm đa chất liệu, cho thấy một Bùi Tiến Tuấn ổn định mà không đứng yên, luôn để các chất liệu tạo nên chân dung đầy đủ nhất về mình.

Khi tranh của anh bước vào những không gian Neo-Classic và Modern Luxury, hợp tác cùng các nhà thiết kế nội thất như Thái Công qua triển lãm Lụa Là (2025), lụa không còn chỉ nằm trên tường phòng tranh, mà “sống” cùng đời sống, trở thành một phần của căn tính thị dân đương đại Sài Gòn.

Day dưa mãi cái chốn thị thành

Danh xưng “thị dân toàn thời gian” mà nhà văn Lê Văn Đồng dành cho Bùi Tiến Tuấn, ngẫm lại thấy đúng là bao quát trọn vẹn hành trình ấy. Sinh năm 1971 tại Hội An, anh vào Sài Gòn học mỹ thuật từ đầu thập niên 1990, rồi ở lại, lập gia đình và làm nghề. Không phải người đô thị gốc, nhưng anh đã lựa chọn đô thị như một cam kết căn tính. Môi trường học tập với nhiều thầy tu nghiệp từ Nga giúp anh tiếp cận không chỉ kỹ thuật lụa, mà cả màu nước, giấy dó và những tri thức ngoài giáo trình. Nhưng quan trọng hơn, nơi thị thành này lại dạy anh cách sống giữa những rung cảm giao thoa, cho anh giải bày những quan sát và toàn bộ tư duy thẩm mỹ của mình.

Một tác phẩm sơn mài của họa sĩ. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ

Một tác phẩm sơn mài của họa sĩ. Nguồn: Facebook cá nhân nghệ sĩ

Dù nhiều người gắn tên Bùi Tiến Tuấn với tranh lụa và hình ảnh phụ nữ thị thành, theo quan sát của nhà văn Lê Văn Đồng, thị dân và đô thị mới là trục đề tài xuyên suốt mà anh theo đuổi. Từ tranh đường phố, giấy dó đến acrylic và canvas, anh phản ánh đời sống đô thị cả ở thực tại lẫn ký ức. Từ “hình nhân đường phố” đến “hình nhân lụa là”, mạch sáng tác ấy chưa từng thay đổi. Như nhà phê bình Nguyễn Thanh Sơn nhận xét, trong tranh anh “luôn tồn tại một đô thị ẩn giấu, không nhà cửa, không ánh đèn, nhưng hiện diện rõ ràng qua nhịp sống của từng nhân vật.”

Anh không phủ nhận sự khốc liệt và xô ngược của đời sống đô thị. Với anh, một “thị dân toàn thời gian” là người chấp nhận điều đó để rồi dùng nghệ thuật “lọc” hiện thực thành sự lãng mạn và bồng bềnh. Những “hình nhân” vì thế không chỉ là thiếu nữ hay dáng người cụ thể, mà là những suy tư âm ỉ của một thị dân kiên định với lựa chọn của mình.

Họa sĩ đang hoàn thiện những tác phẩm mới tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Họa sĩ đang hoàn thiện những tác phẩm mới tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Bước vào tranh Bùi Tiến Tuấn, khán giả không chỉ nhìn thấy một bức tranh đẹp, mà cảm nhận được cả một tiến trình và một sự sống độc lập mang căn tính riêng. Theo nhà nghiên cứu Cường Quách, lụa là chất liệu “đặt cọ là xong, không thể sửa”, buộc họa sĩ phải cẩn trọng tuyệt đối nhưng vẫn giữ được sự rung rinh. Việc không thể tẩy xóa khiến anh kiểm soát chặt chẽ bố cục, mảng miếng và dòng cảm xúc, lý giải vì sao mỗi tác phẩm thường có nhiều hơn một bản phác thảo. Với kỹ thuật vững vàng, cảm xúc được tiết chế, cùng sự day dưa hoài với chốn thị thành, Bùi Tiến Tuấn đã thổi vào tranh lụa một tinh thần hiện đại, qua đó mở rộng đối tượng tiếp nhận và nâng cao cảm nhận của khán giả trẻ về lụa đương đại.

Tốt nghiệp Trường Đại học Mỹ thuật TP.HCM năm 1998, sau một thập niên hoạt động nghệ thuật, anh được mời về giảng dạy tại trường trong giai đoạn 2009 - 2014, trước khi chuyển sang sáng tác tự do và chuyên nghiệp. Những năm đứng lớp, anh góp phần làm thay đổi cách nhìn của thế hệ trẻ về khoa Lụa: “không bó hẹp trong định kiến, mà mở nó ra như một khả năng sáng tạo còn tiếp diễn”, để từ đó hình thành nên những giảng viên và nghệ sĩ tận tâm với sinh viên, như chính anh ngày trước.

Đôi lời kết

Đi qua mặc cảm, bế tắc và cả những lần quay lưng với lụa, Bùi Tiến Tuấn trở lại chất liệu này bằng một tâm thế khác: chín muồi hơn, tỉnh táo hơn và tự do hơn theo từng năm tháng. Dù làm việc với lụa, giấy dó hay sơn dầu, “gen” thị dân vẫn luôn hiện diện, giúp anh không bị lạc nhịp trong dòng chảy của mỹ thuật đương đại.

Với Tuấn, nghệ thuật không cần thanh minh hay né tránh đời sống; cái đẹp, khi được đặt đúng vào bối cảnh của nó, tự thân đã có lý do để tồn tại. Mỗi chất liệu, vì thế, là một cuộc đối thoại khác với thị thành, và chính tinh thần ấy giữ anh ở vị thế của một “thị dân toàn thời gian”: luôn vận động, luôn mới, ngay cả trên một chất liệu đã đi cùng lịch sử hàng nghìn năm như lụa.

Bài trước Bài tiếp theo