Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/

Vũ Cao Đàm

“Bộ tứ Đông Dương” hay “Tứ Kiệt Đông Dương” là tên gọi trân quý mà giới mỹ thuật dành cho bốn danh họa tài năng: Lê Phổ, Mai Trung Thứ, Lê Thị Lựu và Vũ Cao Đàm. Trong số đó, Vũ Cao Đàm (1908–2000) mang đến một sắc thái rất khác biệt: một họa sĩ – nhà điêu khắc không ngừng dịch chuyển giữa các ngôn ngữ tạo hình, giữa chất liệu và cảm xúc, để rồi mở ra một lối đi độc đáo, nơi hội họa Việt hòa nhịp vào những khúc giao hưởng siêu hình và tâm linh của nghệ thuật phương Tây.

Vũ Cao Đàm sinh năm 1908 tại Hà Nội, trong một gia đình có truyền thống Nho học. Cha là Vũ Đình Thi và mẹ Phạm Thị Cúc. Đỗ vào khóa II (1926-1931) trường Mỹ Thuật Đông Dương, học tới năm thứ nhì, Vũ Cao Đàm chuyển sang điêu khắc. Đỗ thủ khoa, khi ra trường, được học bổng sang Pháp học Ecole du Louvre, vừa đi học vừa làm nghề điêu khắc. Nếu các bạn đồng môn như Lê Phổ, Mai Trung Thứ chọn quay về Việt Nam một thời gian trước khi sang Pháp, thì Vũ Cao Đàm từ sớm đã gắn chặt đời mình với trời Âu. Trong hành trình ấy, ông không ngừng tìm kiếm một tiếng nói riêng, vừa mang đậm dấu ấn văn hóa Việt, vừa không tách rời khỏi nhịp thở của nghệ thuật hiện đại thế giới. Trong bốn họa sĩ Việt Nam sống ở Pháp, Vũ Cao Đàm là người có công nhất trong việc tìm tòi chất liệu cho tranh lụa và sơn dầu và cũng là người tạo ra sự chuẩn mực điêu khắc Việt Nam hiện đại. 

Hành Trình Khám Phá Bản Ngã Nghệ Thuật

Dù nền tảng nghệ thuật là điêu khắc, nhưng vì buộc phải hiện sinh trong thời cuộc của chiến thế giới lần thứ hai (1939-1945), việc làm tượng hết sức khó khăn do việc đổ khuôn đồng bị cấm, vậy nên ông chuyển từ làm tượng sang vẽ tranh và thử nghiệm lần lượt từ tranh lụa tới sơn dầu. Ông từng chia sẻ: “Từ đại chiến 1939-1945, tôi đổi sang hội họa. Thời điểm ấy rất khó nặn tượng vì thiếu chất liệu. Việc đổ khuôn đồng bị cấm trong chiến tranh. Người Đức tịch thu tất cả. Tôi phải nặn tượng bằng đất nung đánh bóng, như bức chân dung thi sĩ Jean Tardieu, con của thầy tôi và chân dung bà Marie Laure, vợ thi sĩ Tardieu”.

Dù vậy, điêu khắc và tranh vẽ, hai loại hình nghệ thuật tưởng chừng như tương phản lại có thể hòa nguyện và bổ trợ cho nhau một cách kì diệu và sáng tạo vô cùng. Tranh Vũ Cao Đàm mang tính chất xác thực trong sự khảo sát cơ thể, với những đường cong tuyệt mỹ. Thời kỳ tranh lụa, Vũ Cao Đàm dựng lại không khí cổ kính phương Đông bằng nghệ thuật Phục Hưng, tạo chiều sâu cho tranh lụa bằng kỹ thuật sáng tối. Các nét vẽ lụa của ông thể hiện sự già dặn trong bút pháp và có nét hoài cổ trầm tư. Sự phối màu một cách tự nhiên và nhiều phần bản năng sâu sắc cũng như độ chín ở nhận thức, tri thức để tạo nên những hình khối chắt lọc. Bức chân dung người phụ nữ Bắc là một tuyệt tác, với sóng mũi dọc dừa, đôi mắt bồ câu một mí huyền bí, làn tóc trần đen nhánh quấn trên đầu mềm mại, tỏa cái đẹp thuần khiết thanh cao trong tâm hồn Việt. Nó có thể coi là La Joconde của Việt Nam. Ở giai đoạn này, khi có nhiều họa sĩ bị ảnh hưởng bởi kỹ thuật phẳng lỳ, đồng màu đồng sắc của tranh Tàu thì Vũ Cao Đàm là người duy nhất học tập và ứng dụng nghệ thuật Phục Hưng vào tranh của mình. Sở dĩ Vũ Cao Đàm làm được điều đó vì ông đã tìm được cách bồi lụa trên giấy cứng, giúp họa sĩ có thể vẽ trên lụa và dùng nhiều màu, khác hẳn lối vẽ thẳng lên lụa của Trung Quốc. Tranh lụa của ông ít khi sắc nét, mà phủ một lớp ánh sáng nhạt nhòa, giống như sương khói, như ký ức dội về từ quá khứ. Ông dùng bột màu pha loãng trên lụa, để các lớp màu thẩm thấu, đan xen, tạo nên những bức tranh mang sắc thái mộng mị. 

Vũ Cao Đàm, Hát cô đầu, tranh lụa, 1941

Vũ Cao Đàm, Hát cô đầu, tranh lụa, 1941. Nguồn: LUXUO.

Bàn về tranh sơn dầu, một trong những đặc trưng nghệ thuật chính của Vũ Cao Đàm, ông nói: “Vì tính hiếu kỳ khiến tôi hay tìm hiểu sâu thêm về hội họa và tôi thấy tranh lụa bị giới hạn bởi kích thước của bức tranh, lại có miếng kính che giữ gìn cho lụa nên không thể vẽ to được. Hơn nữa, ngay hồi còn đi học, chúng tôi vẫn ao ước được vẽ tranh ấn tượng và vẽ theo các trường phái mới mà vẫn không quên tất cả vẻ đẹp của nghệ thuật Đông phương”. Khi vẽ sơn dầu, ông vùng vẫy trong những nét vờn thơ mộng, màu sắc cực kỳ tươi sáng, mới lạ. Màu xanh ông tạo ra từ sự giao thoa trời xanh với nước biếc Địa Trung Hải. Người Pháp gọi đó là màu xanh Chagall. Nhà phê bình Thụy Khuê thì nghĩ màu xanh Cao Đàm tạo ra có trước Chagall, đi vào những bức Phật thiền trên tòa sen trắng, ánh sáng Như Lai gọi ta về chốn tịnh tâm cao khiết. Nếu tranh của Lê Phổ có xu hướng bay bổng, tranh của Mai Trung Thứ mang nét thanh thoát cổ điển, thì tranh của Vũ Cao Đàm giống như những khúc hát trầm lắng, phi trọng lực, đầy chất thơ. Ông không bị ràng buộc bởi chi tiết hay sự chính xác, mà ưu tiên cảm xúc, ánh sáng và chuyển động.

Cái hồn Việt vẫn ẩn chứa trong từng “áng tranh” 

Nghệ thuật của Vũ Cao Đàm luôn thể hiện những đề tài đậm chất đời sống và văn hóa Việt. Năm 1977, Vũ Cao Đàm viết: ‘tôi cho rằng tôi thuộc trong số những người đầu tiên đã cố gắng hoà giải những gốc gác phương Đông của mình mà không phá vỡ truyền thống bằng nhận thức của tôi về những bài học rút ra từ việc nghiên cứu những bậc thầy lớn của văn hoá phương Tây.’ Ông tập trung khai thác những chủ đề quen thuộc của phương Đông: thiếu nữ Việt với dáng vẻ yểu điệu, khung cảnh gia đình, những người mẹ bế con, hình ảnh nông thôn, thiên nhiên… Nguồn cảm hứng sáng tác đầu tiên của họa sĩ Vũ Cao Đàm có lẽ từ cha mình, đại thi hào Vũ Đình Thi. Ông thường vẽ chân dung phụ thân của mình để khắc họa hình ảnh một học giả, một danh nhân tri thức, điển hình trong số đó là bức “Ông Quan” (Le Mandarin) từng nằm trong bộ sưu tập nổi tiếng của Dr. Tuấn Phạm. Bức tranh này đã đạt mức giá 5.5 tỷ VNĐ trong phiên đấu giá Nghệ thuật Đương đại và Nghệ thuật thế kỷ 20 tại Christie’s Hồng Kông. Hơn nữa, vì cha là một nhà thơ nên Vũ Cao Đàm cũng nhiều lần bén duyên và khơi gợi cảm xúc từ những tác phẩm thi ca Việt như “Chinh Phụ Ngâm” của Đặng Trần Côn hoặc danh tác “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Phổ họa những tác phẩm ấy, Vũ Cao Đàm đã chọn nhiều hoạt cảnh khác nhau, có khi là tráng sĩ lẫm liệt đeo gươm chuẩn bị lên đường, cũng đôi lúc là khung cảnh người chinh phụ địu con khi tiễn biệt người chồng ra chiến địa hay Kiều và Kim Trọng gặp gỡ và đính ước.

Vũ Cao Đàm, Hòa hợp, sơn dầu, 1978

Vũ Cao Đàm, Hòa hợp, sơn dầu, 1978. Nguồn: Christie's.

Một trong những chủ đề khác của Vũ Cao Đàm chính là hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong trang phục truyền thống. Riêng chủ đề này có thể quan sát được có sự phân chia nhị nguyên rõ rệt về phong cách vẽ của Vũ Cao Đàm qua các giai đoạn khác nhau. Ở thời kỳ đầu vẽ lụa, những thiếu nữ hiện lên vẻ lãng mạn với bút pháp lĩnh hội từ tranh lụa đời Tống. Hoạt cảnh chủ yếu được khắc họa là khung cảnh thiếu nữ trong trang phục truyền thống đang chuyện trò, đôi lúc trầm tư tĩnh mịch, cũng có đôi lúc khỏa thân tắm mát. Về sau khi hợp tác độc quyền với Wally Findlay, ông có những tác phẩm lấy hình tượng thiếu nữ nhưng khắc họa theo lối “thần thánh hóa” (Divinité). Nét đẹp trong loạt tranh “Divinité” mang nhiều ảnh hưởng từ văn hóa Phật giáo phương Đông và đi kèm với một bảng màu tươi sáng được vẽ bằng sơn dầu trên toan. 

Giới nghiên cứu từng ví tranh ông với tác phẩm của Marc Chagall – nghệ sĩ gốc Do Thái nổi tiếng thế giới – bởi cả hai cùng sử dụng hình ảnh lơ lửng, mềm mại, lãng mạn, chất chứa nỗi hoài niệm sâu xa. Những bức “Thiếu nữ bên hoa sen”, “Cô gái bên đàn” của Vũ Cao Đàm không chỉ đơn thuần là tranh chân dung hay tranh phong cảnh, mà là những tấm gương phản chiếu tâm linh: ở đó, nghệ thuật trở thành phương tiện đưa người xem đến gần những miền cảm xúc mơ hồ, gần gũi nhưng không dễ gọi tên. Có thể nói Vũ Cao Đàm không kể chuyện bằng ngôn ngữ hiện thực hay chủ nghĩa ấn tượng kiểu Pháp, mà bằng một phong cách phảng phất chất siêu hình – nơi hình thể nhường bước cho tinh thần, nơi cảnh vật chỉ là phông nền cho sự tỏa sáng của tâm hồn.

Vũ Cao Đàm, Mơ mộng, mực và bột màu trên lụa, 1940

Vũ Cao Đàm, Mơ mộng, mực và bột màu trên lụa, 1940. Nguồn: LUXUO.

Chủ đề thứ ba cũng thường xuyên xuất hiện trong các sáng tác tranh vẽ của Vũ Cao Đàm là chủ đề về tình mẫu tử. Điển hình như bức tranh "Maternité" vẽ năm 1961 được bán với giá 156.000 euro (3,6 tỷ đồng). Tác phẩm thu hút người xem vì trên nền hoa cỏ được vẽ theo phong cách trừu tượng, họa sĩ thể hiện hình ảnh mẹ đang bế con ngồi lên đùi, đầu tựa vào ngực với gam màu trắng xanh khiến không gian như bừng sáng. Trong những tác phẩm khác của mình, ông cũng thể hiện rất rõ những gắn kết của mẹ và con được ông thông qua cử chỉ và nét mặt. Dáng tay ôm, ánh mắt giàu tình cảm, ôm con trong lòng được ông rất chú tâm diễn đạt. Cũng có lẽ bởi vậy mà tình cảm trong tranh rất dễ cảm, dễ mến đối với người xem.

Dấu Ấn Quốc Tế Và Giá Trị Vượt Thời Gian

Từ cuối thập niên 1940, Vũ Cao Đàm trở thành gương mặt quen thuộc của giới sưu tập nghệ thuật tại Pháp, Mỹ và nhiều nước châu Âu. Các triển lãm của ông tại Galerie Romanet, Galerie René Drouet (Paris), cùng các phiên đấu giá lớn như Sotheby’s, Christie’s, Artcurial… đều được giới sưu tầm săn đón. Theo thống kê, tranh ông từng đạt mức giá hàng trăm nghìn USD trên thị trường quốc tế. Năm 2014, bức “Mẹ con” (Mother and Child) của ông được Sotheby’s Hong Kong bán với giá 856.000 HKD. Năm 2021, bức “Dáng xuân” đạt gần 300.000 USD trong phiên đấu giá quốc tế. Điều này không chỉ phản ánh giá trị vật chất, mà còn cho thấy vị thế của ông như một cây cầu kết nối giữa mỹ thuật Việt Nam và thế giới. Không ồn ào, không phô trương, hành trình nghệ thuật của Vũ Cao Đàm giống như một sợi chỉ mảnh nhưng bền bỉ, dệt nên tấm thảm phong phú của mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Trong các tài liệu nghiên cứu, nhà phê bình Phan Cẩm Thượng từng nhận xét: “Vũ Cao Đàm là người khai mở một cánh cửa mới: đưa hội họa Việt thoát khỏi sự ràng buộc của bút pháp truyền thống mà hòa nhập vào dòng chảy tâm linh toàn cầu”.

Ngày nay, tranh của Vũ Cao Đàm hiện diện trong nhiều bộ sưu tập lớn tại châu Âu, Mỹ, châu Á, và thường được trưng bày trong các bảo tàng, triển lãm uy tín. Ông trở thành biểu tượng của một thế hệ nghệ sĩ Việt dám đi xa, dám mạo hiểm, dám chạm vào những giới hạn mới của nghệ thuật. Quan trọng hơn, ông để lại một di sản tinh thần quý giá: niềm tin rằng nghệ thuật không cần phải ồn ào để chạm đến trái tim người khác, rằng giữa nhịp sống xô bồ, người ta vẫn có thể tìm thấy những khoảnh khắc yên tĩnh, để lắng nghe tiếng vọng của chính mình.