Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/

Lê Vượng

Ở nơi ánh sáng gặp bóng tối, nơi chiếc ấm sứ hay cái bình cũ vẫn vẹn nguyên hơi thở của sự sống, Lê Vượng đã luôn âm thầm cầm cọ, để nói với mọi người rằng: vật cũng biết vui, biết buồn.

Ảnh chụp họa sĩ Lê Vượng bên tác phẩm. Ảnh thuộc Bài viết Hoạ sĩ Lê Vượng: 50 năm cầm cọ và triển lãm đầu tiên ở tuổi 70, Báo Công an Tp. Hồ Chí Minh.

Ảnh chụp họa sĩ Lê Vượng bên tác phẩm. Nguồn: Bài viết Hoạ sĩ Lê Vượng: 50 năm cầm cọ và triển lãm đầu tiên ở tuổi 70, Báo Công an Tp. Hồ Chí Minh.

Bình dị, bao dung và tĩnh

Lê Vượng đến với tĩnh vật tả thực như một cơ duyên bất ngờ trong những ngày gian khó. Bằng sự cần mẫn và tâm hồn Á Đông sâu sắc, ông dần yêu thế giới của những vật vô tri, tìm thấy trong đó sự tĩnh lặng và chiều sâu tinh thần. Từ đây, ông định hình phong cách Tĩnh vật Ánh sáng, đặc trưng bởi sự chăm chút và cảm xúc chiêm nghiệm.

Tĩnh vật đã song hành cùng mỹ thuật thế giới từ các bức bích họa Ai Cập cổ đại từ thế kỷ XV TCN, cho đến các danh tác Hà Lan thế kỷ XVII, luôn gắn liền với tiến trình triết học về “sự tồn tại của vật”. Thế nhưng, ở Lê Vượng, tĩnh vật lại mang tính bao dung, tĩnh lặng và đời thường hơn.

Khác biệt với hội họa cổ không vẽ bóng hay lối tả thực phương Tây dùng ánh sáng tạo khối, ánh sáng trong tranh Lê Vượng tạo ra sự tập trung tuyệt đối, thể hiện tinh thần và tâm trí người cầm cọ. Ông vận dụng kỹ thuật tương phản sáng tối mạnh (Chiaroscuro), chủ động chiếu sáng cục bộ vào vật thể trên nền tối sâu. Ánh sáng này không sao chép tự nhiên mà đến từ ngọn đèn dầu, ấm áp, khiêm nhường, nó là tả thực của nội tâm, chứ không phải tả thực của thị giác.

Lê Vượng, Tĩnh vật. Ảnh thuộc Bài viết Họa sĩ Lê Vượng - người vẽ sự im lặng, Báo Tuổi trẻ.

Lê Vượng, Tĩnh vật. Nguồn: Bài viết Họa sĩ Lê Vượng - người vẽ sự im lặng, Báo Tuổi trẻ.

Tĩnh vật từng bị xem là thể loại phụ cho đến khi danh họa Paul Cézanne biến nó thành triết học ánh sáng, cảm nhận sự tồn tại qua hình dáng vật thể. Ở Lê Vượng, sự đồng điệu ấy hiện lên rõ ràng: từ cái bình cũ, chiếc ấm, manh vải, ông thấy cả đời sống của vật, như nhìn thấy chính những trầm tư chưa từng chối bỏ.

“Mình quan trọng là mình vẽ đó, người ta thấy được cái tâm hồn, cái vật cũng có tình cảm, cũng có cái sự vui buồn, người ta cảm nhận được là quý lắm.”

Nhà phê bình Nguyên Hưng cũng từng cảm nhận: "Tình cảm Lê Vượng trong tranh là tình cảm trân quý đối với thế giới đồ vật gần gũi.”

Nhiều người nhận xét tranh ông tiệm cận trường phái Cực thực (Hyperrealism) bởi sự tỉ mỉ trong ánh sáng và bóng đổ, giống hệt ảnh chất lượng cao. Tuy nhiên, ông chỉ khiêm nhường tự nhận tranh mình là Tả thực, lý giải:

Tôi coi đó là tả thực... mình nhìn thấy sao mình vẽ lại, và có chút sáng tạo trong đó, chứ mình không có nghĩ là thêm hay bớt gì hết."

Trong dòng chảy hội họa Tả thực Việt Nam đương đại, cố họa sĩ Đỗ Quang Em cùng với Lê Vượng được xem là hai cây cọ tiêu biểu. Sự so sánh này làm rõ hai triết lý sống và làm nghệ thuật khác nhau. Nhà phê bình Nguyên Hưng từng cảm nhận:

“Thế giới đồ vật trong tranh Đỗ Quang Em chỉ là cái cớ để biểu hiện sự định tĩnh của một tâm hồn tự tại. Còn Lê Vượng vẫn là một họa sĩ tả thực với cảm xúc trữ tình hồn nhiên bình dị. Đỗ Quang Em tinh tế, thâm trầm, còn Lê Vượng hết sức bình dị, hiền hòa."

Đỗ Quang Em, Tĩnh vật chiếc ly đỏ, sơn dầu. Ảnh thuộc mục Hội họa: Tranh Đỗ Quang Em, Học Xá Wordpress.

Đỗ Quang Em, Tĩnh vật chiếc ly đỏ, sơn dầu. Nguồn: Mục Hội họa: Tranh Đỗ Quang Em, Học Xá Wordpress.

Đỗ Quang Em là bậc thầy dùng ánh sáng rất kịch tính, thường chỉ chiếu rõ một phần đối tượng, phần còn lại chìm trong bóng tối sâu như một cách “xóa viền” bằng sáng và tối. Cách làm này tạo những câu chuyện bỏ ngõ, buộc người xem phải tự viết thêm vào. Họa sĩ Phạm Bình Chương từng cảm nhận:

“Nguồn sáng của ông bí hiểm, cục bộ với cường độ cao tạo cho đối tượng có độ chói và bóng ngả mạnh, chỉ đủ hiện ra cái đẹp nhất và luôn thiếu thông tin.”

Lê Vượng thì khác. Ông chọn ánh sáng dịu, đầy đặn và bao dung. Ông không “cắt” vật thể mà để ánh sáng đi khắp, ưu ái vẽ cả những chiếc bóng đổ. Những gì Đỗ Quang Em giấu đi, Lê Vượng lại muốn giữ lại trọn vẹn, như một cách tri ân cái đẹp đời thường.

Trong khi Đỗ Quang Em thử nghiệm Tả thực với cả chân dung, Lê Vượng chủ yếu tập trung vào tĩnh vật. Đơn giản chỉ vì ông thấy bất tiện cho chính người làm mẫu, lẫn người cầm cọ. 

“Nói chung là tôi cũng từng vẽ người, có lần vẽ hai cô, một cô gái và một người thân. Nhưng chuyện vẽ người, với tôi, không đơn giản. Mỗi họa sĩ có cách riêng. Tôi không phải không muốn vẽ, mà vì nhiều lý do: người quen thì không phải người mẫu, họ không quen ngồi lâu; đã vậy khi bị đèn rọi thẳng, họ chịu không nổi. Mình vẽ trong điều kiện như vậy thì cũng khó đạt được cảm xúc và cách vẽ mình mong muốn.”

Lê Vượng, Chân dung con gái tôi, sơn dầu, 60x60 cm. Ảnh thuộc Bài viết TP HCM giới thiệu hơn 690 hiện vật mỹ thuật, VN Express.

Lê Vượng, Chân dung con gái tôi, sơn dầu, 60x60 cm. Nguồn: Bài viết TP HCM giới thiệu hơn 690 hiện vật mỹ thuật, VN Express.

Với dòng chảy hội họa tả thực Việt Nam, cũng có thể ngộ ra một triết học của cái nhìn cho hai cái tên Đỗ Quang Em và Lê Vượng: Một người chọn kịch tính, một người chọn tĩnh lặng, nhưng đều đi tìm sự thật của cái đẹp; và đơn giản hóa vật lý để tăng cường chiều sâu tâm lý và triết lý theo tinh thần của Georges de La Tour.

Một người thương những chiếc bóng đổ

Sinh tại Sài Gòn, gốc Hà Nội, Lê Vượng học tại Cao đẳng và Đại học Mỹ thuật TP.HCM (1970 - 1977), từng được các thầy Văn Đen, Nguyễn Xuyên, cô Trương Thị Thịnh và họa sĩ Nguyễn Lâm hướng dẫn. Thuở đầu, ông say mê Ấn tượng trữ tình, phóng khoáng. Nhưng cuộc sống sau 1975 buộc ông làm nhiều nghề, rồi một cơ duyên đến từ những người bạn sưu tầm đồ cổ đã đưa ông trở lại với hội họa, và lần này, là tĩnh vật tả thực, dù quá trình đó không dễ dàng gì.

“Lúc đầu tôi vẽ theo kiểu Ấn tượng, quẹt thoải mái lắm. Khi chuyển sang tĩnh vật Tả thực thì khác hẳn, phải tỉ mỉ từng chút, ngồi lâu thấy mệt. Nhưng vẽ riết rồi quen, rồi mê lúc nào không hay. Tôi bỏ hẳn Ấn tượng để theo con đường này.”

Lê Vượng, Phong Cảnh, sơn dầu, 54 x 64 cm. Ảnh thuộc Mục trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Lê Vượng, Bình Minh Art Gallery.

Lê Vượng, Phong Cảnh, sơn dầu, 54 x 64 cm. Nguồn: Mục trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Lê Vượng, Bình Minh Art Gallery.

Từ nét cọ phóng khoáng, ông tìm thấy niềm vui trong sự kiên nhẫn. Từ ánh sáng tản sang ánh sáng cục bộ, ông tìm thấy sự tĩnh lặng của chính mình. Nếu cô Thịnh say mê vẻ đẹp mềm mại, thì Lê Vượng lại theo đuổi ánh sáng nặng khối, sâu và tĩnh. Ông không chỉ vẽ vật, mà còn vẽ cả dấu bóng của vật trên tường, như thể mỗi chiếc bóng là một câu chuyện về “sự từng tồn tại”.

“Một bức tranh tôi thường vẽ từ hai mươi ngày đến hơn một tháng, có khi lâu hơn. Nhiều khi chưa vừa ý thì cứ sửa, vẽ đi vẽ lại cho tới khi thật ổn mới thôi.”

Sự bền bỉ ấy trân trọng cái “chậm” và “thật”. Ông tin kỹ thuật học được ai cũng có thể nắm, nhưng cái làm nên người họa sĩ là cảm nhận. Và “cái riêng” ấy của Lê Vượng nằm ở sự chân thành và bình dị trong từng ánh sáng, từng mảng tối.

"Một chất riêng để người xem thấy được cái này là cái của mình, người ta thấy được tình cảm của mình."

Lê Vượng, Chén xanh và Ấm trà, sơn dầu, 80 x 80 cm. Ảnh thuộc Mục trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Lê Vượng, Bình Minh Art Gallery.

Lê Vượng, Chén xanh và Ấm trà, sơn dầu, 80 x 80 cm. Nguồn: Mục trưng bày các tác phẩm của họa sĩ Lê Vượng, Bình Minh Art Gallery.

Trong hơn 50 năm cầm cọ, ông đã tham gia nhiều triển lãm trong và ngoài nước: Mỹ thuật Toàn quốc (1980), Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM (1986), Nhật Bản (1996), Hong Kong (2000), Pháp (2004). Ông nhận Giải thưởng Philip Morris (1997) và Giải thưởng Hội Mỹ thuật Việt Nam (1998), hiện là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam và TP.HCM. Dù vậy, triển lãm cá nhân “Sáng - Tối” (2022) mới là cột mốc đầu tiên sau nửa thế kỷ, quy tụ 36 tác phẩm kết tinh tinh thần nghệ thuật của ông.

“Giờ lớn tuổi rồi, tôi mong có thể làm thêm một triển lãm nữa, khoảng 75 - 76 tuổi. Lần này sẽ dồn hết sức, chỉ vẽ những bức mình thật sự ưng ý để giữ lại, coi như một tặng mình triển lãm cuối đời.”

Dù đã có tên trong Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, ông vẫn giữ sự khiêm nhường đáng quý. Niềm vui của ông không nằm ở việc bán tranh, mà ở chỗ có người dừng lại thật lâu để cảm nhận “cái hồn của vật vô tri”. Điều ông giữ lại, chỉ là ánh sáng trong tranh và trong lòng, như một cách sống chậm cùng hội họa.

Đôi lời kết 

Hành trình nghệ thuật của Lê Vượng là minh chứng cho thấy sự “ngoài tính toán”, cũng là một điểm khởi đầu cho cả một đời theo đuổi nghệ thuật, và con đường đó được định hình bởi sự cần mẫn và khả năng nhìn thấy tình cảm trong những điều tầm thường nhất.

Khởi đầu từ nền tảng hàn lâm, ông đã góp phần tạo nên một phong cách riêng cho dòng tranh Tĩnh vật Tả thực Việt Nam đương đại. Lê Vượng là vậy, vẫn lụi cụi sắp xếp đồ vật, rồi ngồi nhìn và ngẫm để tìm cách điều chỉnh ngọn đèn, đặng dành cho chúng cái thời gian để được lưu lại mãi.

Tin bài liên quan