Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/

Hoàng Tường Minh

Cứ thầm lặng đeo găng tay để hàn mối sắt, rồi dùng lực vặn sát từng sợi kẽm hay khi làm khối thì đắp thẳng đất sét, đất sáp, đó là những thao tác quen thuộc mà điêu khắc gia Hoàng Tường Minh ưu tiên. Để rồi hình khối dần thành hình, mang theo dấu vân tay ịn lõm vào đá, vào kim loại, và những biến dạng được uốn nắn đầy chủ ý.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng tác phẩm điêu khắc đá được bảo dưỡng tại kho. Nguồn: Artonis.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng tác phẩm điêu khắc đá được bảo dưỡng tại kho. Nguồn: Artonis.

Khởi đi từ cái “phôi” của tâm lý

Ở Hoàng Tường Minh, ý tưởng hiếm khi đến trước vật liệu. Ông thường bắt đầu bằng những trạng thái mâu thuẫn của sự kéo lên, trì xuống, hay một thôi thúc phải chạm tay vào đất, vào sắt để xem chúng phản ứng ra sao. Từ “phôi” tâm lý ấy, hình khối dần xuất hiện, mang theo hai mạch quan tâm song hành: sinh thành, nguồn cội, cổ sử, tín ngưỡng; và những áp lực âm ỉ của đời sống cùng chính quá trình làm nghề.

Những năm tháng học tập dưới sự dẫn dắt của cố điêu khắc gia Phan Gia Hương đã để lại cho ông ý thức rõ ràng về sự “thực thụ” của nghề. Đó là quá trình lao động nghiêm túc, không phải “ai kêu sao làm vậy”. Từ tinh thần về tính nữ và cổ sử mà cô giáo gợi mở, Hoàng Tường Minh không tiếp nhận nguyên vẹn mà chuyển hóa lặng lẽ. Nếu ở cô giáo, tính nữ gắn với hình thể mềm mại và sức bền cảm xúc, thì trong sáng tác của ông, tinh thần ấy trở nên trầm hơn, không còn là hình ảnh mà là cảm giác bao bọc, sinh nở và cội nguồn.

Hoàng Tường Minh, Một số tác phẩm trong loạt Áp Lực và Nguồn tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Hoàng Tường Minh, Một số tác phẩm trong loạt Áp Lực Nguồn tại xưởng. Nguồn: Artonis.

Sang loạt Áp lực, Hoàng Tường Minh rời xa cách tạo khối ổn định quen thuộc. Ông tập trung vào thao tác can thiệp: uốn, nén, làm trũng bề mặt đá, gạch hay kim loại. Những vật liệu vốn được xem là cứng và bền trở nên như mềm ra, mong manh hơn. Chính sự “chịu đựng” ấy mở ra những câu hỏi giản dị nhưng dai dẳng: cái gì là cứng, cái gì là mềm; điều tưởng như không thể, liệu có thể không.

“Song song với yếu tố phồn thực, tôi nhìn thấy một áp lực âm ỉ trong đời sống, sinh hoạt và cả nghề nghiệp của mình. Tác phẩm vì thế phản ánh sức nặng của đời sống đè lên con người và tư duy nghệ thuật.”

Những câu hỏi này không được áp đặt bằng diễn giải, mà nảy sinh từ cảm giác thị giác, buộc người xem phải tự điều chỉnh cách nhìn quen thuộc. Nhà nghiên cứu Vũ Huy Thông từng nhận xét rằng loạt Áp lực trong sáng tác của ông không chỉ nằm trong khối, mà tạo ra một lực đẩy hai chiều giữa người làm và người xem.

Cùng khai thác cảm giác nén, nhưng cách ông xử lý hình khối khác với nhiều nghệ sĩ cùng thế hệ. Nếu ở Khổng Đỗ Tuyền, sự nén tạo ra trạng thái năng lượng chờ bùng phát như một bất an nội sinh, thì ở Hoàng Tường Minh, việc vặn nén không nhằm đẩy cảm xúc lên cao trào, mà làm lệch cảm nhận quen thuộc về bản chất vật chất, tạo ra sự giằng co lặng lẽ giữa tác phẩm và người xem.

Một số tác phẩm phác thảo mẫu tại xưởng của nghệ sĩ Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis.

Một số tác phẩm phác thảo mẫu tại xưởng của nghệ sĩ Hoàng Tường Minh. Nguồn: Artonis.

Nếu Nguyễn Ngọc Lâm lựa chọn điêu khắc như một dạng tự sự nội tâm thông qua cấu trúc hai lớp mang tính ẩn dụ thì Hoàng Tường Minh chủ động rút gọn câu chuyện. Ông không kể hành trình cá nhân, mà dùng thao tác trực tiếp lên vật liệu để tạo “áp lực ngược”, buộc tri giác người xem phải điều chỉnh lại niềm tin thị giác về cứng - mềm, đặc - rỗng. 

Dù các loạt NguồnÁp lực cho thấy một tư duy điêu khắc nhất quán, hành trình nghề nghiệp của ông lại được hình thành từ sự song hành lâu dài giữa sáng tác cá nhân và điêu khắc ứng dụng, một nền tảng âm thầm nhưng quyết định độ nén của ngôn ngữ tạo hình.

Những vết khắc, dấu uốn một hành trang

Sinh năm 1962 tại Tuyên Quang, quê gốc Lập Thạch (Vĩnh Phúc), Hoàng Tường Minh trưởng thành từ một vùng đất không xa lạ với điêu khắc. Tuy vậy, con đường của ông không khởi đi từ lựa chọn sớm hay điều kiện thuận lợi, mà hình thành dần qua dịch chuyển địa lý, đổi hướng học tập và lao động kéo dài trong nhiều vai trò khác nhau.

Cuối thập niên 1970, khi vào miền Nam và theo học hệ trung cấp mỹ thuật, ông bắt đầu với hội họa trước khi rẽ sang điêu khắc. Sau khi tốt nghiệp và đi làm một thời gian, ông tiếp tục thi đại học, theo học điêu khắc từ năm 1985 đến 1990, rồi ở lại TP. Hồ Chí Minh sáng tác cho đến nay. Ông tốt nghiệp đúng giai đoạn đầu thập niên 1990, khi mỹ thuật Việt Nam vừa rời cơ chế bao cấp nhưng chưa có thị trường đúng nghĩa. Với thế hệ điêu khắc gia lúc đó, làm nghề đồng nghĩa với việc phải xoay xở nhiều dạng công việc cùng lúc.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng phần kho lưu trữ các tác phẩm. Nguồn: Artonis.

Điêu khắc gia Hoàng Tường Minh cùng phần kho lưu trữ các tác phẩm. Nguồn: Artonis.

Ngay từ khi còn học và những năm đầu ra trường, ông làm song song điêu khắc ứng dụng, trang trí, phù điêu, sân vườn và cộng tác trong các công trình lớn. Tuy vậy, ông chưa bao giờ xem đó là sự thỏa hiệp. Ngược lại, chính quá trình ấy giúp ông tích lũy kinh nghiệm xử lý vật liệu, không gian, tỷ lệ và sức nặng thực sự của hình khối. Khi tham gia các công trình tượng đài hay tôn giáo, ông luôn đặt mình vào vai trò người cộng tác, làm trọn phần việc được giao mà không tìm cách chiếm vị trí trung tâm.

“Những công trình tượng đài hay tôn giáo thì tôi chỉ là người làm cùng, làm theo bản vẽ của tác giả. Việc chuyển từ một bản vẽ 2D sang hình khối 3D là phần việc của người điêu khắc. Mình cứ làm hết sức trong phần việc của mình thôi.”

Việc bị chi phối bởi các công trình ứng dụng khiến nhịp sáng tác cá nhân của ông không đều, nhưng sự gián đoạn ấy lại tạo ra độ nén cần thiết. Những trải nghiệm tích lũy trong thời gian dài, khi trở về xưởng lại trở thành nền cho các loạt sáng tác có chiều sâu về sau.

Trong quá trình làm việc, ông ưu tiên trực giác vật lý, nơi ý niệm không nằm trên giấy mà nảy sinh khi ông chạm tay vào đất sét hay kẽm, uốn, vặn, làm nhỏ rồi mới làm lớn. Khi tác phẩm phát triển lên kích thước lớn, hình khối không bị ràng buộc cứng nhắc bởi phác thảo ban đầu, mà tiếp tục biến đổi theo đặc tính chất liệu và nhịp cảm xúc.

Sau nhiều năm làm việc với đá, gỗ và kim loại, ông nhận ra sắt là chất liệu phù hợp nhất với cảm quan cá nhân. Không chỉ vì đặc tính vật lý, mà vì khả năng xoay trở chủ động. So với đá nặng nề cần máy móc và thợ phụ, sắt cho phép ông làm việc một mình, nhấc lên, đặt xuống, điều chỉnh liên tục theo cảm giác tay.

Hoàng Tường Minh, Không giới hạn, tại khuôn viên Flamingo Art Museum. Nguồn: Flamingo Art Museum.

Hoàng Tường Minh, Không giới hạn, tại khuôn viên Flamingo Art Museum. Nguồn: Flamingo Art Museum.

Điêu khắc sắt của ông tạo ra một nghịch lý giàu sức gợi: dùng kỹ thuật hàn rỗng để diễn tả cảm giác nặng nề, bí bách. Chính cách làm này đã “chuyển dịch cảm quan về khối từ vật liệu xây dựng sang hình thức điêu khắc”, như nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng từng nhận xét. Bề mặt tác phẩm không được làm nhẵn để che giấu quá trình, mà giữ lại vết hàn, vết uốn, như cách ịn dấu vân tay lên khối đá, cục gạch. Với ông, sáng tác là một hành trình cảm xúc dài, nơi có thể quên ăn quên ngủ để được tự do trong tìm kiếm.

Hơn ba thập kỷ lao động, ông đóng góp cho điêu khắc đương đại qua các loạt sáng tác cá nhân và những công trình văn hóa, tôn giáo. Tuy vậy, ông luôn giữ thái độ từ tốn, không tự nhận mình thành công. Nếu không có những chia sẻ của nhà văn Dư Thị Hoàn như một nhân chứng sống tại làng Ankroet, có lẽ ít ai biết đến một góc khác trong sự thầm lặng ấy: việc ông trực tiếp xây dựng cầu sắt nối làng qua suối dữ, tự tay chạm khắc bảng gỗ chỉ dẫn hiến tặng cộng đồng. Tất cả diễn ra âm thầm, hệt như cách ông đồng hành cùng nghệ thuật bằng sự bền bỉ, điềm tĩnh và đầy lòng trắc ẩn.

Đôi lời kết 

Hoàng Tường Minh là một trường hợp điêu khắc bền bỉ và độc lập, hình thành ngôn ngữ riêng qua nhiều năm lao động âm thầm. Ông không chạy theo trào lưu, mà kiên trì làm việc với lịch sử, tín ngưỡng và những áp lực khó gọi tên của đời sống, bằng cách chạm trực tiếp vào vật chất. Ở đó, điêu khắc không chỉ để nhìn, mà để tri giác người xem chậm lại, nghi ngờ và tự điều chỉnh.

Việc đặt nền nghệ thuật trên bàn tay và lao động khiến Hoàng Tường Minh chọn kim loại như một người bạn làm việc. Qua sắt, ông thử thách cảm nhận quen thuộc về cứng - mềm, nặng - nhẹ, ổn định - biến dạng, không nhằm đưa ra kết luận, mà mở rộng cách nhìn về khả năng của điêu khắc Việt Nam hôm nay.

Tin bài liên quan