Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Van Gogh, Starry night (Đêm đầy sao), 1889

Viết về trường phái Biểu hiện – Khi nghệ thuật là tiếng gọi từ bên trong

Nếu buộc phải tồn tại trong một xã hội vô định và rối ren, con người sẽ làm gì để tiếp tục khi 'sống là một bổn phận trời dúi vào tay'? Ở thời đại ngày nay, có lẽ sẽ có nhiều cách trả lời. Nhưng nếu tua ngược về thế kỷ XIX, câu trả lời khi ấy dường như chỉ có một: họ phản ánh nỗi đau đó vào trong nghệ thuật. Và chính từ những tiếng lòng đầy đau đớn đó, trường phái nghệ thuật Biểu Hiện đã ra đời – như một phương tiện để họa sĩ bày tỏ những dằn vặt nội tâm và sự bức bối trước thực tại. 

Những dấu ấn đầu tiên

Chủ nghĩa biểu hiện là là một xu hướng nghệ thuật được xem là toàn cầu hơn là một phong trào nghệ thuật thống nhất, đặc biệt ảnh hưởng vào đầu thế kỷ 20. Nó trải dài trên các lĩnh vực khác nhau: nghệ thuật, văn học, âm nhạc, sân khấu và kiến trúc. Khi đó, xã hội có nhiều thay đổi quan trọng như sự xuất hiện của các nhà triết học Khai sáng và Cách mạng công nghiệp. Một xã hội với quá nhiều sự biến chuyển mới đã dẫn đến cảm giác xa lánh và mất kết nối với thế giới, cùng với sự mất mát về mặt tinh thần và hy vọng. Riêng đối với hội họa, các nghệ sĩ đã phản ứng với những hoàn cảnh bất ổn và thay đổi này bằng một loạt các tác phẩm nghệ thuật thô sơ, chuyển từ việc mô tả thế giới thực sang thể hiện cá nhân về trạng thái tâm lý và cảm xúc của tâm trí.  

Những đặc điểm ban đầu của Expressionism có thể được nhận thấy trong sự khắc họa nỗi khổ đau về vật chất lẫn tinh thần như tranh ‘Crucifixion’ của Grünewald (1515); trong viễn cảnh bị giày vò ở tranh khắc của Martin Schongauer, ‘Temptation of Saint Anthony’(1480). Năm 1910, thuật ngữ này mới được sử gia nghệ thuật người Séc Antonin Matejcek đặt ra lần đầu tiên, người đã quan sát cách các nhóm nghệ sĩ khác nhau đang rời xa những quan sát thực tế của chủ nghĩa ấn tượng để hướng đến những hình thức sáng tạo mang tính cá nhân, giàu trí tưởng tượng và biểu cảm sâu sắc, gợi lên trạng thái tinh thần riêng của nghệ sĩ.  

Một khuôn mẫu mới cho cái gọi là Nghệ thuật 

Nhà sử học nghệ thuật người Séc Antonin Matějček đã từng phát biểu rằng: “Một người theo chủ nghĩa Biểu hiện mong muốn trên hết là được thể hiện bản thân. (Từ chối) những nhận thức trực tiếp của mắt để xây dựng nên các cấu trúc hình ảnh phức tạp của tinh thần… Những ấn tượng và hình ảnh qua tâm hồn con người như qua một bộ lọc, tách nó ra khỏi sự vây bám về vật chất để nhìn rõ hơn bản chất thuần túy sau đó được tinh lọc, đúc kết thành những dạng tổng quát hơn, mà có thể chép lại qua các thể thức và ký hiệu ngắn gọn, đơn giản.” Vì thế, nó khác với cách biểu hiện của chủ nghĩa thực chứng positivism (lấy hiện tượng, sự kiện làm cái “thực chứng”, làm căn cứ và đề cao khoa học tự nhiên trong việc lý giải tự nhiên, xã hội, con người) và các phong cách nghệ thuật khác như chủ nghĩa Tự nhiên (Naturalism) và Ấn tượng (Impressionism). 

Van Gogh, Starry night (Đêm đầy sao), 1889

Van Gogh, Starry night (Đêm đầy sao), 1889. Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại, New York, Hoa Kỳ.

Trong hội họa biểu hiện, màu sắc có thể xuất hiện dữ dội và không tự nhiên, hình dạng trở nên méo mó. Nghệ thuật biểu hiện thường quan tâm đến nhu cầu bên trong (hoặc tầm nhìn sáng tạo) của nghệ sĩ, cũng như các chủ đề về tâm linh. Tất cả họ đều phá vỡ truyền thống coi nghệ thuật là công cụ để tái hiện thế giới thực, thay vào đó sử dụng nghệ thuật như một phương tiện để thể hiện cảm xúc mạnh mẽ, hoặc sự hỗn loạn với màu sắc rực rỡ, hình dạng kéo dài và nét cọ có kết cấu hoặc hoa văn và các dấu ấn lỏng lẻo, uyển chuyển và ngẫu hứng. Điều gây chấn động giới mỹ thuật lúc đó là các họa sĩ Biểu hiện có thể tạo ra biểu cảm của màu sắc và đường nét để khám phá các chủ đề kịch tính và đầy cảm xúc, để truyền tải những phẩm chất của nỗi sợ hãi, kinh hoàng và kỳ dị, hoặc đơn giản là để tôn vinh thiên nhiên với cường độ ảo giác. Đối với các nhánh Biểu hiện sau này, họ còn sử dụng các đường nét gồ ghề, méo mó; nét cọ thô, nhanh; và màu sắc chói tai để mô tả cảnh đường phố đô thị và các chủ đề đương đại khác trong các tác phẩm đông đúc, kích động đáng chú ý vì sự bất ổn và bầu không khí đầy cảm xúc của chúng. Nhiều tác phẩm của họ thể hiện sự thất vọng, lo lắng, ghê tởm, bất mãn, bạo lực và nói chung là một loại cường độ cảm xúc điên cuồng để đáp lại sự xấu xí, sự tầm thường thô thiển và những khả năng và mâu thuẫn mà họ nhận thấy trong cuộc sống hiện đại.

Một số hình ảnh, màu sắc được sử dụng trong trường phái Biểu hiện có một số ý nghĩa chung nhất định. Màu đỏ thường tượng trưng cho sự đam mê, tức giận hoặc cường độ (The Scream của Edvard Munch). Màu xanh tượng trưng cho sự u sầu, tâm linh hoặc nội tâm (The Blue Rider của Wassily Kandinsky). Màu vàng tượng trưng cho sự lo lắng, điên rồ hoặc sự giác ngộ về mặt tinh thần (The Yellow Christ của Paul Gauguin)

Màu xanh lá cây thường tượng trưng cho thiên nhiên, sự phát triển hoặc sự suy tàn. Các hình thức vật lý cố tình bị bóp méo góp phần thể hiện một số cảm xúc như: những hình vẽ dài tượng trưng cho khát vọng tâm linh hoặc sự dày vò bên trong. Sự rời rạc tượng trưng cho sự phân mảnh về mặt tâm lý hoặc sự xa lánh xã hội. Các đặc điểm khuôn mặt được phóng đại nhấn mạnh cường độ cảm xúc hoặc sự hỗn loạn bên trong. Góc nhìn méo mó tạo ra cảm giác bất an hoặc bất ổn cho người xem. Cũng cùng là sử dụng chất liệu thiên nhiên, nhưng khác với trường phái tiền nhiệm Ấn tượng, Biểu hiện sử dụng nó để miêu tả nội tâm mình chứ không chỉ xem nó là một khoảnh khắc tuyệt tác cần khắc họa. Cụ thể, những ngọn núi tượng trưng cho khát vọng tâm linh hoặc sự cao cả (VII của Kandinsky). Cây tượng trưng cho sự sống, sự phát triển hoặc sự kết nối với các lực lượng nguyên thủy. Cảnh đô thị mô tả sự xa lánh, hỗn loạn hoặc mất đi tính cá nhân. Các nhà máy và cảnh quan công nghiệp đại diện cho sự phi nhân tính và suy tàn về mặt tinh thần. 

Theo tiến trình lịch sử  

Edvard Munch và Vincent Van Gogh

‘Sự biểu lộ bản thân’ trong tranh của Vincent van Gogh và Edvard Munch truyền cảm hứng cho các họa sĩ Biểu hiện vào thế kỉ XX. Cả hai danh họa này đều xuất thân từ trường phái Ấn tượng. Tuy nhiên thay vì ngưỡng mộ vẻ đẹp và sự hài hòa sắc màu của phong cảnh tự nhiên, Van Gogh và Munch lại có quan điểm khác biệt. Họ chọn cái nhìn đi sâu vào nội tâm để khám phá hình thức “tự thể hiện” (self-expression).

Edvard Munch, The scream (Tiếng thét)

Edvard Munch, The scream (Tiếng thét). Nguồn: Bảo tàng Quốc gia Na Uy.

Trong bức thư gửi em trai Theo van Gogh, Vincent giải thích về bức tranh Sunflowers’ (1888) của mình rằng “Thay vì tìm cách sao chép những gì mắt nhìn thấy, anh muốn dùng màu một cách linh hoạt hơn để diễn tả sinh động về bản thân mình.” Hay đối với tác phẩm Tiếng thét - 1893 của Edvard Munch, chính ông cũng đã nói rằng “bầu trời đột nhiên chuyển sang màu đỏ như máu... Những lưỡi lửa và máu trải dài trên vịnh hẹp màu đen xanh. Bạn bè tôi tiếp tục đi bộ, trong khi tôi tụt lại phía sau, run rẩy vì sợ hãi. Sau đó, tôi nghe thấy tiếng hét vô tận, to lớn của thiên nhiên". Nó không chỉ đơn thuần là cảm giác chìm trong thiên nhiên, đó phản ánh "cảm giác của một người đàn ông thời đại chúng ta" - trích Ernst Kirchner. 

Phong trào Die Brücke (‘Cây Cầu’/The Bridge)

Chịu ảnh hưởng của các nghệ sĩ như Munch, van Gogh và Ensorm, một nhóm bốn sinh viên kiến trúc người Đức mong muốn trở thành họa sĩ - Ernst Ludwig Kirchner , Fritz Bleyl , Karl Schmidt-Rottluff và Erich Heckel - thành lập nhóm Die Brücke (Cây cầu) tại thành phố Dresden. Nhóm mô tả cảnh những người dân thành phố, gái mại dâm và vũ công trên đường phố và hộp đêm của thành phố, thể hiện mặt trái đồi trụy của xã hội Đức. Trong các tác phẩm như Kirchner 's Street, Berlin (1913), họ nhấn mạnh sự xa lánh vốn có của xã hội hiện đại và sự mất đi sự giao tiếp tinh thần giữa các cá nhân trong nền văn hóa đô thị; những người dân thành phố xa cách nhau, hành động như những hàng hóa đơn thuần, như trong những cô gái mại dâm ở phần đầu tác phẩm của Kirchner. Họ đã viết “Đặt niềm tin của mình vào một thế hệ mới đầy sáng tạo và mến mộ hội họa, chúng tôi kêu gọi mọi người trẻ hãy tụ hội. Và bởi vẫn còn tươi trẻ cũng như mang trong mình cả tương lai, chúng ta muốn giành lấy quyền sống và dịch chuyển khỏi sự sung túc thoải mái đã được tạo lập của những thế hệ đi trước. Bất kì ai trực tiếp và chân thành tái kiến tạo lực lượng mà có thể thúc đẩy chính bản thân mình đi tiếp, họ đều là một phần của chúng tôi.” Các tác phẩm của thời kì này là sự pha trộn phong cách của bản vẽ Nguyên thủy (primitive) với sự cường điệu về màu của trường phái Dã thú (Fauves), sắp xếp lại với nhau theo bố cục Gothic của Đức. 

Phong trào Der Blaue Reiter (Kỵ mã xanh/The blue rider)

Các nghệ sĩ của nhóm Der Blaue Reiter chia sẻ khuynh hướng trừu tượng, nội dung tượng trưng và ám chỉ tâm linh. Họ tìm cách thể hiện các khía cạnh cảm xúc của bản thể thông qua các bản vẽ mang tính biểu tượng cao và nhiều màu sắc rực rỡ. Tên của họ xuất phát từ biểu tượng con ngựa và người cưỡi ngựa, bắt nguồn từ một trong những bức tranh của Wassily Kandinsky; đối với Kandinsky, người cưỡi ngựa tượng trưng cho sự chuyển đổi từ thế giới hữu hình sang thế giới tâm linh và do đó đóng vai trò như một phép ẩn dụ cho hoạt động nghệ thuật. Đối với các thành viên khác như Franz Marc, Paul, Klee và Auguste Macke, khái niệm này đã trở thành nguyên tắc trung tâm để vượt qua mô tả thực tế và đi sâu vào trừu tượng.

Kandinsky, Composition VII (Sáng tác VII), 1913

Kandinsky, Composition VII (Sáng tác VII), 1913. Nguồn: Phòng trưng bày Tretyakov, Moscow, Nga.

Mặc dù Der Blaue Reiter chưa bao giờ công bố bản tuyên ngôn, nhưng các thành viên của nhóm đã đoàn kết với nhau bởi những sáng kiến thẩm mỹ của họ, chịu ảnh hưởng của các hình thức nghệ thuật thời trung cổ và nguyên thủy, trường phái Lập thể và trường phái Dã thú. Tuy nhiên, bản thân nhóm này tồn tại không lâu; khi Chiến tranh thế giới thứ nhất nổ ra vào năm 1914, Franz Marc và Auguste Macke đã bị bắt đi nghĩa vụ quân sự Đức và đã tử trận ngay sau đó. Các thành viên người Nga của nhóm - Wassily Kandinsky , Alexej von Jawlensky và những người khác - đều bị buộc phải trở về nhà. Der Blaue Reiter đã giải thể ngay sau đó.

Có những điều sẽ mãi sóng đôi cùng thời gian 

Như đã đề cập ở trên đã có không ít họa sĩ theo trường phái Biểu hiện đã thiệt mạng trong Thế chiến I, hoặc do hậu quả của chiến tranh, do tra tấn và bệnh tật. Năm 1933 đánh dấu những ngày tháng cuối cùng của kỷ nguyên biểu hiện bởi sự dập dắt của đảng Quốc xã Đức khi các nghệ sĩ bị đàn áp vì cái gọi là 'sự suy đồi' trong tác phẩm của họ. Nhiều người đã buộc phải di cư đến những nơi khác ở châu Âu hoặc đến Hoa Kỳ. Đảng Quốc xã đã tổ chức một cuộc triển lãm vào năm 1937 có tên là Nghệ thuật suy đồi (Entartete Kunst) sau khi loại bỏ 20.000 tác phẩm nghệ thuật hiện đại khỏi các bảo tàng do nhà nước sở hữu. 650 tác phẩm được trưng bày cùng với các nhãn hiệu xúc phạm các nghệ sĩ. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tác phẩm của các nghệ sĩ theo chủ nghĩa biểu hiện Đức như nhóm The Blue Rider đã trở nên phổ biến trở lại thông qua các cuộc triển lãm như Triển lãm Nghệ thuật Đức thế kỷ XX năm 1938 tại Phòng trưng bày Burlington ở London.

Tuy nhiên, trường phái nghệ thuật Biểu hiện vẫn tiếp tục truyền cảm hứng và tồn tại trong các nghệ sĩ và phong trào nghệ thuật sau này bao gồm Chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng , Chủ nghĩa biểu hiện mới và Trường phái London. Vào cuối những năm 1970, đầu những năm 1980, Chủ nghĩa Tân Biểu hiện bắt đầu phát triển như một phản ứng chống lại nghệ thuật Khái niệm và nghệ thuật Tối giản đương thời. Các nghệ sĩ theo trường phái Tân Biểu hiện đã được truyền cảm hứng rất nhiều từ những người theo trường phái Biểu hiện Đức đi trước họ. Sự thành công của các nghệ sĩ Tân biểu hiện nổi tiếng bao gồm Jean-Michel Basquiat, Anselm Kiefer, Julian Schnabel, Eric Fischl và David Salle có thể được nói như là một sự hấp thụ và phát triển những tinh hoa mà trường phái Biểu hiện đã để lại, dù chỉ bằng những tư liêu ít ỏi hay những gì được truyền tụng trong không gian. 

Bài trước Bài tiếp theo