Nếu thể thao có thế vận hội Olympic, khoa học có giải Nobel thì ở mảng nghệ thuật, Venice Biennale chính là định chế danh giá bậc nhất thế giới. Được tham gia Venice Biennale và triển lãm tác phẩm của mình trong không gian trưng bày quốc gia (National Pavilion) là sự chứng nhận tối cao nhất về vị thế chuyên môn tầm quốc tế mà một nghệ sĩ có thể mơ đạt tới. Và vào năm 1954, lần đầu tiên có hai nghệ sĩ Việt Nam được trưng bày tác phẩm tại Venice Biennale…
Venice Biennale – “Thế vận hội” của nghệ thuật thị giác
Ra đời vào năm 1895, Venice Biennale là một trong những sự kiện văn hóa và nghệ thuật đương đại danh giá lẫn lâu đời nhất thế giới, nơi những quốc gia tham dự sẽ mang đến các tác phẩm tiêu biểu nhất của nghệ sĩ đại diện. Sự kiện xoay quanh hai mảng nghệ thuật chính: Art Biennale – Triển lãm nghệ thuật, được tổ chức vào các năm chẵn và Architecture Biennale – Triển lãm kiến trúc vào các năm lẻ. Trong tiếng Ý, “biennale” có nghĩa là “hai năm một lần”, tương ứng với cách tổ chức xen kẽ này.

Một vài catalogue và tờ rơi các triển lãm của hai nghệ sĩ Tran Tho và Le Thy tại các gallery của Ý trong những năm 1950 (Milan, Turin, Rome,…). Nguồn: Zanga Arts Space | Tư liệu trong luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang.
Được tham gia Venice Biennale không chỉ là dấu mốc lịch sử đối với nền nghệ thuật của một quốc gia mà còn là đỉnh cao sự nghiệp của nghệ sĩ đại diện. Năm 1954, lần đầu tiên Việt Nam xuất hiện chính thức với tư cách một quốc gia độc lập có gian trưng bày riêng tại Venice Biennale lần 27. Giữa bối cảnh lịch sử đầy biến động của năm 1954, việc văn hóa và nghệ thuật Việt Nam cất tiếng nói sòng phẳng, tự tin bên cạnh 30 cường quốc mỹ thuật khác tại một kỳ biennale có quy mô lớn kỷ lục tính đến thời điểm bấy giờ mang ý nghĩa ngoại giao văn hóa vô cùng lớn lao.
Hành trình "Mang chuông đi đánh xứ người" của Lê Thy và Trần Thọ
Năm 1954 – Tiếng vang đầu tiên
Năm 1954, giữa vô vàn biến động trong nước lẫn trên bàn cờ chính trị quốc tế, gian trưng bày riêng của Việt Nam tại Venice lại như một tuyên ngôn văn hóa mạnh mẽ về một quốc gia độc lập có nền mỹ thuật rực rỡ. Hai nghệ sĩ đại diện Việt Nam lúc đó là họa sĩ Trần Thọ và họa sĩ Lê Thy. Họ không chỉ đại diện cho nền nghệ thuật Việt Nam nói chung và thế hệ nghệ sĩ Nam Bộ đầy tài năng, sục sôi tinh thần tìm tòi nói riêng. Quan trọng hơn, họ mang đến Venice thứ ngôn ngữ nghệ thuật đặc trưng, độc bản nhất của Việt Nam để đối thoại với thế giới.

Lê Thy, Une panthère noire sur un rocher en surplomb, auprès d’une cascade traversant une végétation luxuriante, l’animal guettant en contrebas un daim avançant sur un chemin longeant des rizière (Báo đen bên thác nước chờ săn nai), sơn mài, khoảng 1948. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Trần Thọ tham gia Venice Biennale với 9 tác phẩm đồ sộ, chia đều cho hai chất liệu lẫn hai thái cực: sơn mài nặng tính truyền thống, triết lý và tranh lụa thiên tính cảm xúc, hiện đại. Trong khi đó, bậc thầy sơn mài Lê Thy mang đến 5 tác phẩm sơn mài với các kỹ thuật đặc biệt của ông. Các tác phẩm của hai họa sĩ được vận chuyển vượt đại dương sang Ý. Tại đó, chúng phải vượt qua nhãn quan khắt khe của Guido Perocco – một trong những nhà phê bình, giám tuyển nghệ thuật quyền lực và có sức ảnh hưởng lớn nhất nước Ý suốt nhiều thập kỷ.

Trần Thọ, Vessels (Những con tàu), sơn mài. Nguồn: Escritório De Arte.
Không chỉ được tuyển duyệt, Trần Thọ và Lê Thy còn được Perocco đích thân viết lời giới thiệu trang trọng trong catalogue chính thức của Biennale 27, đề cao kỹ nghệ và tư duy tạo hình của hai nghệ sĩ Việt Nam. Tranh của hai ông được sánh vai cùng tác phẩm tham dự của nhiều nghệ sĩ lừng lẫy năm châu trong cùng kỳ Biennale 27 đó như Salvador Dalí, Willem de Kooning, Francis Bacon, Henri Matisse, v.v. Những điều này là minh chứng cho thấy tác phẩm của Trần Thọ và Lê Thy đã chạm đến tiêu chuẩn nghệ thuật hàn lâm khắt khe của thế giới.
Năm 1956 – Sự bảo chứng cho đẳng cấp bền vững
Nếu xem năm 1954 chỉ mới là sự "tò mò" của phương Tây với nghệ thuật Viễn Đông thì việc Trần Thọ tiếp tục được mời vào Biennale 28 (1956, không có sự tham gia của Lê Thy) là lời khẳng định chắc nịch rằng nghệ thuật của ông không phải hiện tượng nhất thời mà có giá trị học thuật nội tại vững chắc. Lần này, họa sĩ Trần Thọ tham gia với 7 tác phẩm sơn mài:
- I contadini del mio villaggio (1954) – Những người nông dân làng tôi.
- Studio (1954) – Xưởng vẽ.
- La rete (1955) – Cái lưới.
- Rovine Khmère (1955) – Di tích Khmer.
- Raccolta dei fiori (1955) – Hái hoa.
- I pescatori (1956) – Những ngư dân.
- Barche (1956) – Thuyền.
(Thông tin tham khảo từ ASACdati. Tên tiếng Việt của tác phẩm là do người viết tạm dịch)

Trần Thọ, Les Buffles (Những con trâu). Nguồn: World Bank Collection.
Hành trình tham gia Venice Biennale hai kỳ liên tiếp này chứng minh vị thế của Trần Thọ đã được hệ thống hàn lâm châu Âu công nhận ở cấp độ cao nhất. Nhiều nguồn tư liệu cũng ghi nhận giống nhau rằng trong cả hai lần tham gia, họa sĩ Trần Thọ đều được nhận Honorary Mention – Giải danh dự, càng khẳng định thêm tài năng và vị thế của ông.
Bước ngoặt định danh toàn cầu cho nghệ thuật Việt
Trước khi bước ra thế giới, sơn mài thường bị soi chiếu hay đánh giá từ góc nhìn mang tính thuộc địa, hoặc bị giới học giả phương Tây đóng khung là một dạng "nghệ thuật trang trí" hay "kỹ nghệ thủ công" (craft). Sân khấu Venice Biennale chính là bệ phóng giúp Lê Thy và Trần Thọ đập tan định kiến “thủ công mỹ nghệ” đó. Họ chứng minh rằng sơn mài Việt Nam là một chất liệu hội họa thuần khiết, có khả năng tải được những tư duy bố cục đồ sộ, hàn lâm và các cấu trúc không gian phức tạp.

Trần Thọ, Duas Mulheres (Hai người phụ nữ). Nguồn: Escritório De Arte.
Việc trực tiếp đứng chung khán đài với tinh hoa mỹ thuật toàn cầu tại Venice vừa giúp hai ông có cơ hội cọ xát, đối thoại sòng phẳng với các trào lưu nghệ thuật hiện đại đang bùng nổ tại châu Âu, vừa xác lập đặc trưng thẩm mỹ độc bản của Lê Thy và Trần Thọ. Từ đó, họ làm giàu thêm thế giới quan sáng tác của mình, đồng thời định vị rõ ràng hơn lối đi riêng cho mỹ thuật nước nhà: Hiện đại hóa nhưng không đánh mất bản sắc.

Lê Thy, Travelling scene in Tonkin (Cảnh du hành ở Bắc Kỳ), sơn mài, khoảng 1940 - 1949. Nguồn: Artnet Worldwide Corporation.
Sau hai ông, nhiều nghệ sĩ Việt Nam ở những thế hệ tiếp theo cũng đã có cơ hội chạm ngõ Venice Biennale, gầy dựng tên tuổi và mở rộng thêm vùng trời nghệ thuật riêng của mình từ đó. Năm 2026 đây, Việt Nam lại tiếp tục có nghệ sĩ đại diện tham gia Venice Biennale, kéo dài tiếp sợi duyên giữa nước ta với nền nghệ thuật hàn lâm quốc tế đã được chắp lại và se nên bởi hai bậc tiền bối: Lê Thy và Trần Thọ.
Bài viết có sử dụng tư liệu trích từ luận án “Sự hiện diện vắng mặt của Việt Nam tại Venice Biennale (1948 - 2026) ngành Thạc sĩ Nghệ thuật thị giác và Nghiên cứu giám tuyển, NABA, Milan, Ý của Phạm Thị Điệp Giang. Xin cảm ơn tác giả Phạm Thị Điệp Giang đã cho phép trích dẫn tư liệu vào bài viết!
