Lý do mà nghệ thuật luôn đi kèm và gắn bó với lịch sử vì đôi khi đó là quyền tự do ngôn luận duy nhất có thể được hợp pháp thực hiện. Nghệ thuật mở ra một không gian để ở đó mọi cảm xúc được giãi bày, mọi thông tin được lan tỏa, và hành trình cho sự giải thoát mới đã hiện ra.
Chiến tranh châm ngòi cho một khát vọng
Khi chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ khiến tình trạng châu Âu vô cùng rối ren. Cuộc chiến kéo dài từ năm 1914 đến năm 1918 là một trong những cuộc xung đột đẫm máu nhất trong lịch sử nhân loại, gây ra mức độ tàn phá và hủy diệt chưa từng có. Sự biến đổi sâu sắc về mặt tư tưởng và xã hội xảy ra ở khắp mọi nơi mà nổi bật là các hệ tư tưởng duy lý và chủ nghĩa dân tộc kết hợp với bạo lực vô nghĩa và những tiến bộ công nghệ trong chiến tranh dẫn đến cảm giác vỡ mộng sâu sắc trong nhiều người, đặc biệt là giới nghệ sĩ và trí thức. Hàng triệu sinh mạng mất mát, và sự tàn phá lan rộng đã để lại một vết sẹo sâu đậm trong tâm lý chung của châu Âu.
Và giờ đây các hình thức nghệ thuật truyền thống đã không còn đủ sức truyền tải những thực tế mới mẻ khắc nghiệt của thế giới hậu chiến. Từ bối cảnh lịch sử khắc nghiệt như thế mà nghệ thuật thời kì này cũng dần tan rã. “Âm nhạc của Schoenberg thì vô điệu tính, thơ của Mallarmé thì lộn xộn cú pháp và ngôn từ rải rác trên trang giấy, còn trường phái Lập thể của Picasso thì biến giải phẫu người thành một mớ hỗn độn…Tại Paris, sau khi thử sức với trường phái Ấn tượng và Lập thể, Marcel Duchamp đã từ bỏ mọi hội họa vì chúng được tạo ra cho thị giác, chứ không phải cho tâm trí” (A Brief History of Dada, Paul Trachtman).
Trong cái bể loạn lạc đó Thụy Sĩ là nước trung lập duy nhất còn hòa bình, và Zurich từ đó chính là cái nơi của một trào lưu nghệ thuật mang tên Dada. Phong trào này được khởi xướng bởi các nhà thơ và nhà văn hoạt động trong Cabaret Voltaire được thành lập vào tháng 2 năm 1916. Trong căn hầm ồn ào của Cabaret Voltaire năm 1916, Hugo Ball, Emmy Hennings, Tristan Tzara và Richard Huelsenbeck gào lên thứ ngôn ngữ mới: "Dada là trái tim không nhịp đập, là hơi thở không khí trời!". Tất nhiên, Dada không đơn thuần nảy sinh – nó bùng nổ như vết rách thịt da trên thân thể nghệ thuật châu Âu tại thời điểm ấy. Trường phái Dada như một hiện thân của sự lên án cho một cuộc chiến mà họ coi là hoàn toàn phi lí và là bằng chứng cuối cùng cho sự sụp đổ của những nghệ thuật truyền thống chai sạn và những chuẩn mực lâu đời trong nghệ thuật châu Âu. Họ phủ nhận mọi logic đã dẫn nhân loại vào hố diệt chủng, coi nghệ thuật truyền thống như chiếc mặt nạ giả dối che đậy thối rữa.
Thuật ngữ Dada được tìm thấy đầu tiên trong số tạp chí đầu tiên của trường phái này xuất bản vào tháng 5 năm 1916. Từ Dada được các nhà Dada chủ nghĩa tìm thấy một cách ngẫu nhiên trong một cuốn từ điển của Pháp với một cách giải nghĩa mơ hồ là “ con ngựa bập bênh của trẻ con”, nên bản chất của trào lưu này cũng mang vẻ kỳ quái như cách gọi của nó. Thậm chí chính tuyên ngôn Dada cũng đã viết rằng: Ý nghĩa của Dada chẳng là cái gì cả, các tác phẩm nghệ thuật mà chúng ta cần là luôn luôn tiến về phía trước, không bao giờ cúi đầu. Cái mà chúng ta xem là thần thánh, là động tác giác ngộ phi con người, còn đạo đức là loại thuốc bằng máu mủ của mọi người.”

Raoul Hausmann, Spirit of Our Time, 1920. Nguồn: Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại Quốc gia, Paris, Pháp.
Sự phát triển của Dada theo các cột mốc quan trọng
Năm 1916, nhà văn người Đức Hugo Ball, đã suy ngẫm về tình hình nghệ thuật đương đại: “Hình ảnh con người đang dần biến mất khỏi hội họa thời bấy giờ, và mọi vật thể chỉ còn là những mảnh vỡ.... Bước tiếp theo là thơ ca quyết định xóa bỏ ngôn ngữ.” Và cứ thế, sự khởi đầu của Dada được đánh dấu vào ngày mà Hugo Ball và Emmy Hennings thành lập Cabaret Voltaire - một diễn đàn nghệ thuật tại một tửu quán trên đường Spiegelgasse. Trong đêm ấy, Ball đã đọc một bài thơ hoàn toàn vô nghĩa nhưng nhắm vào công chúng dường như quá tự mãn về cuộc chiến vô nghĩa. Hay nói cách khác Ball muốn gây sốc cho bất kỳ ai, đặc biệt là những người coi tất cả cuộc tàn sát và hỗn chiến là chiến thắng trí tuệ của châu Âu.
Những người có mặt từ đầu cùng với Ball và Hennings gồm có Hans Arp, Tristan Tzara, Marcel Janco, và Richard Huelsenbeck. Buổi tối Dada được tổ chức lần đầu ngay tháng 7 sau đó và nó đã có được bản tuyên ngôn đầu tiên cho trường phái của mình. Năm 1917, sau khi Ball rời Bern để theo đuổi sự nghiệp làm báo, Tzara đã mở một phòng trưng bày mang tên Dada trên phố Bahnhofstrasse. Tại đây, nhiều buổi biểu diễn Dada cùng với các triển lãm nghệ thuật đã được tổ chức thường xuyên.
Tzara nhanh chóng trở thành người dẫn dắt phong trào và tích cực quảng bá tư tưởng Dada bằng cách gửi hàng loạt thư từ đến các nghệ sĩ và nhà văn ở Pháp và Ý. Nhóm cũng xuất bản một tạp chí phê bình nghệ thuật và văn học có tên Dada, số đầu tiên ra mắt vào tháng 7 năm 1917 tại Zurich với năm ấn bản, và hai số cuối được phát hành tại Paris. Các hoạt động nghệ thuật của họ chủ yếu xoay quanh trình diễn và xuất bản ấn phẩm.
Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1918, nhiều trong số những nghệ sĩ đã quay trở về quê nhà của mình và giúp phong trào ngày càng lan truyền rộng rãi ở các quốc gia như Đức, Pháp, Mỹ. Cụ thể, tại Đức, năm 1917, Huelsenbeck trở về từ Zurich để thành lập Câu lạc bộ Dada ở Berlin, hoạt động từ năm 1918 đến năm 1923, và bao gồm những người tham gia như Johannes Baader, George Grosz, Hannah Höch, và Raoul Hausmann. Dada ở Berlin công khai chống Cộng hòa Weimar và nghệ thuật của họ mang nặng tính chính trị. Chủ đề mà nhóm này thường châm biếm các quan chức chính phủ và những lời bình phẩm của họ trước một xã hội mới. Sau đó họ tổ chức nhiều phòng tranh, hội nghị và xuất bản sách để tìm kiếm sự chú ý và ủng hộ, song đều bị cảnh sát giải tán. Trong khi đó, tại Pháp một Lễ hội Dada đã được tổ chức
vào năm 1920 quy tụ rất nhiều người tham dự. Mỉa mai thay, ‘Hội chợ quốc tế Dada đầu tiên’ lại là bắt đầu của một kết thúc. Có một vài cuộc biểu tình, triển lãm, và các buổi trình diễn được tổ chức cùng với những bản tuyên ngôn và các bài báo đã được công khai. Khác với hai quốc gia kể trên, New York cũng là một nơi lánh nạn của các hoạ sĩ thuộc phong trào Dada. Sau đó, nó trở thành một trong những môi trường ươm trồng cho phong trào này, do ảnh hưởng truyền bá của Marcel Duchamp, Francis Picabia và Man Ray. Duchamp được coi như người đàm thoại then chốt cho phong trào này ở New York. Một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông, Mảnh thuỷ tinh lớn (The Large Glass) hay Bride Stripped Bare by her Bachelors, Even được xem là một trong những bức tranh khởi đầu cho xu hướng phản nghệ thuật tại đây.

Raoul Hausmann, The Art Critic, 1919-20. Nguồn: Bảo tàng Tate, London, Anh.
Mặc dù lan rộng nhanh chóng, phong trào này cũng khá bất ổn. Một số nghệ sĩ đã chuyển sang các phong trào và tư tưởng khác. Trong giai đoạn 1921-22, chủ nghĩa Dada cuối cùng đã tan rã thành các phe phái đối địch khác. Một trong những phe phái đó là chủ nghĩa Siêu thực, do Andre Breton tiên phong. Các phe phái khác bao gồm chủ nghĩa Hiện thực Xã hội Chủ nghĩa và một số hình thức hiện đại.
Hoá ra thay bản chất của trường phái Dada là tự tiêu diệt. Hay như chính nó cũng đã từng phản chiếu mình trong bản tuyên ngôn của mình: Mọi trang báo đều phải bùng nổ, cho dù là nhờ sự nghiêm túc, sự sâu sắc, hỗn loạn, kinh tởm, sự cách tân, vĩnh hằng, sự vô nghĩa có thể huỷ diệt, sự nhiệt tình với các nguyên tắc, hay cách mà nó được in ra. Nghệ thuật phải là phi thẩm mỹ trong cái vô cùng, vô dụng, và vô phương để biện minh”. (Dada, Hương Mi Lê).
