Mỗi bước tiến mới trong bối cảnh nghệ thuật sẽ ứng với một thời kì lịch sử khác nhau. Đó có thể là mẫu số chung của một xã hội bị biến chuyển mang tính lan rộng khắp mọi nơi, nhưng đôi khi nó cũng chỉ là vấn đề riêng biệt của một vài quốc gia đơn nhất. Dù thế nào, khi những người họa sĩ không phân biệt nơi chốn và tầng lớp xã hội, tìm thấy được tiếng nói chung trong một thiên hướng nghệ thuật, họ sẽ cùng nhau nối tiếp thành một phong trào. Và đó cũng là cách mà khiến cho Chủ nghĩa Biểu hiện là một phong trào nghệ thuật then chốt vào đầu thế kỷ XX.
Sự biến chuyển của một xã hội đang bước vào “Kỷ nguyên cơ giới”
Có thể bắt đầu với cái nôi của trường phái Biểu hiện - Đức. Sau khi đã được thống nhất từ chiến tranh Pháp - Phổ vào năm 1871, nước Đức từng bước lớn mạnh hơn nhờ vào công nghiệp. Ít lâu sau, Đế chế Đức thay thế Anh quốc trở thành quốc gia dẫn đầu Châu Âu trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 nhờ vào việc sử dụng công nghệ mới nhất, đầu tư lớn vào nghiên cứu và khoa học, hệ thống cartel hiệu quả cũng như bồi thường chiến phí từ Pháp sau Chiến tranh Pháp - Phổ. “Nông nghiệp sản xuất và công nghiệp nặng đã được thay thế bằng các ngành công nghiệp hiện đại như chế tạo (sản phẩm điện - Siemens và AEG), hóa chất và chế tạo động cơ (Karl Benz và Gottlieb Daimler) là những ngành quan trọng nhất của nền kinh tế Đức” (Những thay đổi về công nghiệp, kinh tế và nhân khẩu học, 1871-1910, BBC). Sự phát triển của động cơ đốt trong và điện cho phép truyền tải điện ngay cả bên ngoài các trung tâm nhà máy. Sự lan rộng của thiết bị chạy bằng điện đã lấn sân sang các ngành sản xuất thủ công, trên các công trường xây dựng, trong các tiệm bánh và các trung tâm chế biến thực phẩm khác (một số nơi chứng kiến sự ra đời của các nhà máy); “Trong chính các nhà máy, những khung dệt lớn hơn cho ngành dệt may và các quy trình tự động cho sản xuất giày dép và đóng máy và đóng tàu (thông qua máy tán đinh tự động) đã giúp giảm yêu cầu về kỹ năng và tăng đáng kể sản lượng bình quân đầu người. Công việc được đẩy nhanh hơn nữa, những người vận hành bán lành nghề ngày càng trở nên đặc trưng, và mặt tích cực là sản xuất và do đó sự thịnh vượng đạt đến những tầm cao mới.” (Một xã hội công nghiệp đang phát triển, Jacques Barzun).
Thế nhưng, bất kì một ánh hào quang nào cũng đi kèm với một sự trả giá. Và cái giá của Đức trong việc dẫn đầu trong cuộc cách mạng ấy thực sự rất đắt. Nó đã mang tới sự đau khổ và buồn phiền cho hàng triệu người mà cụ thể là sự giằng xé giữa các thái cực đối lập: sự giàu có lớn và nghèo đói, sự bành trướng lớn và suy thoái sâu sắc, những cơ hội mới và tiêu chuẩn hóa khắt khe. Tới mức, bất ổn kinh tế trở thành một lối sống “bình thường” trong xã hội. “Những người vẫn làm việc trong ngành công nghiệp phải trải qua điều kiện làm việc cực kỳ nguy hiểm, giờ làm việc dài, không được bồi thường cho thương tích, không có lương hưu và mức lương thấp…Độc lập kinh tế giờ đây đòi hỏi một kỹ năng kỹ thuật hơn là quyền sở hữu cửa hàng và công cụ của một người. Những người ủng hộ nó gọi đó là "tiến bộ", nhưng những người làm việc tại nhà máy biết rằng đó là một cái giá.” (Cách mạng công nghiệp 2.0 — Kỷ nguyên sản xuất hàng loạt, Roshan Agarwalc)
Sự bất ổn bắt đầu lan rộng sang các nước châu Âu khác, Năm 1892, công nhân Pháp đã đình công 261 lần chống lại 500 công ty; hầu hết các nỗ lực vẫn nhỏ và cục bộ, và chỉ có 50.000 công nhân tham gia. Sự trỗi dậy của tổ chức lao động báo hiệu một sự phát triển chưa từng có trong lịch sử phản kháng của người dân châu Âu. Nhiều người đã theo chủ nghĩa xã hội và một số phong trào công đoàn có liên hệ chặt chẽ với các đảng xã hội chủ nghĩa đang nổi lên; điều này đặc biệt đúng ở Đức và Áo. Nhiều công nhân coi công đoàn và các cuộc đình công chủ yếu là một phương tiện để bù đắp cho những thay đổi trong môi trường làm việc của họ, thông qua mức lương cao hơn (như một phần thưởng cho công việc ít thú vị hơn) và giờ làm việc ngắn hơn. Chính những điều đó đã tạo điều kiện cho các sự chuyển biến sâu sắc trong nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng, một cuộc đại cải cách có thể nói là định nghĩa lại cái đẹp và chống lại những cái “đẹp” đã lỗi thời.
Bối cảnh nghệ thuật - Sự ai oán xã hội lan rộng sang nhiều hình thức
Khi xã hội tươi đẹp, phát triển, người ta mang niềm vui hòa bình, rộng mở vào bức tranh đầy màu sắc; khi xã hội nhuốm màu chiến tranh, các nét vẽ trở nên nặng nề và sầu não, đôi lúc cả bức chỉ được tô vẽ bằng một màu xám xịt. Không phải tự nhiên là trong dòng chảy nghệ thuật, trường phái hội họa Ấn tượng lại đứng trước Biểu hiện. Dù nhìn từ góc độ nào, đó cũng là phản ánh lại xã hội đang diễn ra một cách tinh tế và sâu sắc. Với Ấn tượng, đây là trường phái ra đời trong giai đoạn của cách mạng Công nghiệp 2, khi mà dấu ấn của sắt, thép, sản phẩm công nghệ vẫn chưa len lỏi quá sâu vào đời sống của nhân dân, và cuộc sống thủ công vẫn đang nhẹ nhàng trôi với những ngày tháng yên bình nhất.
Các họa sĩ thuộc trường phái Ấn tượng thường lựa chọn những đề tài gần gũi, phản ánh nhịp sống đời thường sôi động và tràn đầy sức sống để đưa vào tranh của mình. Họ đặc biệt yêu thích miêu tả những khoảnh khắc bình dị nhưng sinh động như cảnh đường phố nhộn nhịp với dòng người tấp nập qua lại, một cặp tình nhân tay trong tay tản bộ dưới ánh nắng dịu nhẹ, nhóm bạn thân thiết tụ họp trò chuyện vui vẻ, hay khung cảnh đông người hòa mình vào điệu nhảy trong những buổi dạ hội ngoài trời. Ngay cả tiếng cười trong trẻo của bọn trẻ khi nô đùa cũng là một nguồn cảm hứng bất tận. Họa sĩ Ấn tượng chủ trương sử dụng những gam màu tươi sáng, như xanh lục đi cùng đỏ, vàng đi cùng tím, hoặc cam đi với xanh lam để truyền tải Ấn tượng thoáng qua của một khoảnh khắc – điều mà ánh sáng và màu sắc có thể biến đổi chỉ trong chốc lát. Đó là một sự cảm nhận đẹp về cuộc sống.
Nhưng khi thời gian qua đây, người ta bắt đầu thấy rõ được hệ quả của những gã cơ giới khổng lồ đang tràn lan khắp mọi nơi, đe dọa đi nguồn sống của những người thợ thủ công. Mỹ thuật nếu chỉ vui tươi và hạnh phúc như vậy thì sẽ không phù hợp nữa. Và đó cũng chính là lí do mà trường phái Biểu hiện xuất hiện. Đối với họ, việc khăng khăng bám víu vào sự hài hòa và cái đẹp chỉ là sự thiếu ngay thật. Họ muốn đối diện một cách trần trụi kiếp của nhân sinh, đứng về phía những kẻ bị tước đoạt quyền lợi, bị đối xử bất công và xấu xí. “Chủ nghĩa Biểu hiện xuất hiện đồng thời ở nhiều thành phố trên khắp nước Đức như một phản ứng trước nỗi lo âu đang lan rộng về mối bất hòa giữa con người với thế giới, đi cùng đó là cảm giác mất mát về tính nguyên bản và tinh thần. Như một phần phản ứng chống lại chủ nghĩa Ấn tượng và chủ nghĩa hàn lâm, Chủ nghĩa Biểu hiện được truyền cảm hứng sâu sắc nhất bởi dòng chảy Biểu tượng trong nghệ thuật cuối thế kỷ XIX.” (Chủ nghĩa Biểu hiện, Hương Mi Lê). Tâm lí đó không của riêng ai, mà là của cả một tầng lớp trong xã hội. Thế giới đô thị nơi mà họ đang sống thật lạ lẫm, hiện đại nhưng hỗn loạn và tha hóa tới tột cùng.

Ernst Ludwig Kirchner, Nollendorfplatz, 1912. Nguồn: Bảo tàng Thành phố, Berlin, Đức.
Rõ thấy nhất phải kể đến những họa sĩ như nhóm Die Brücke bao gồm Ernst Ludwig Kirchner, Fritz Bleyl, Karl Schmidt-Rottluff, và Erich Heckel hay nhóm Der Blaue Reiter bao gồm Kandinsky, Macke, Klee, và Marc. Để đối đầu với thế giới đô thị, họ đã phát triển một phương thức phản biện xã hội mạnh mẽ trong các nét vẽ tượng hình ngoằn ngoèo và màu sắc đậm của họ. Những đại diện của họ về thành phố hiện đại bao gồm những cá nhân bị tha hoá như gái mại dâm, tiệc tùng, hộp đêm…những người được tả để bình luận về vai trò của chủ nghĩa tư bản trong sự xa cách cảm xúc giữa các cá nhân trong thành phố. Và giờ đây, khi thế giới ngoài kia đã không còn đủ lí tưởng để tạo ra cảm hứng cho con người, con người buộc phải chuyển dịch từ mô tả tả thực về những gì họ thấy sang thể hiện cảm xúc và tâm lý về cách mà thế giới tác động lên họ. Đó gần như là một sự vận hành tất yếu của đời sống này.

Georges Rouault, The Crucifixion, 1936. Nguồn: The Met.
Nghệ thuật nói chung là một sự phản ánh xã hội. Biểu hiện gần như không chỉ là một trường phái nghệ thuật, khởi phát bởi phong trào, và bây giờ nó đã trở thành một chủ nghĩa khi lan rộng sâu rộng bởi các loại hình nghệ thuật khác. Tất cả cùng bổ trợ, ảnh hưởng và làm sâu sắc lẫn nhau. Đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ nhất, cảm giác thất vọng cùng nỗi hoang mang về một thế giới đang đổ vỡ và lụi tàn dường như đã lan thấm sâu xa vào tâm hồn các nhà văn, các họa sĩ, các nhà làm phim của nước Đức. Trong văn học, người ta thường hay tạo ra những vở kịch mang tính phản kháng xã hội. Nhân vật chính trong một vở kịch Biểu hiện thường trút hết nỗi đau khổ của mình trong những đoạn độc thoại dài được diễn đạt bằng ngôn ngữ cô đọng, ngắn gọn, và giải quyết những bất ổn bằng cách nổi loạn chống lại thế hệ cũ và các biện pháp khắc phục chính trị hoặc cách mạng. Thơ ca cũng không ngoại lệ. Chúng thường cô đọng, giản lược, sử dụng các chuỗi danh từ và một vài tính từ và động từ bất định, loại bỏ tường thuật và mô tả để nắm bắt được bản chất của cảm xúc. Chủ đề chính của thơ Biểu hiện là nỗi kinh hoàng về cuộc sống đô thị và viễn cảnh khải huyền về sự sụp đổ của nền văn minh. Phim ảnh cũng tận dụng triệt để các đặc điểm của trường phái Biểu hiện. Các bộ phim được thiết kế để truyền tải thông qua trang trí trạng thái tinh thần chủ quan của nhân vật chính. “Bộ phim nổi tiếng nhất trong số này là Robert Wiene (1920), trong đó một người điên kể lại sự hiểu biết của mình về cách anh ta đến trại tâm thần. Những con phố và tòa nhà méo mó của bối cảnh là sự phản chiếu của vũ trụ của riêng anh ta, và các nhân vật khác đã được trừu tượng hóa thông qua trang điểm và trang phục thành các biểu tượng trực quan. Sự gợi lên bệnh hoạn của bộ phim về nỗi kinh hoàng, mối đe dọa và sự lo lắng cùng ánh sáng tối tăm, kịch tính và bối cảnh kỳ lạ đã trở thành một mô hình phong cách cho các bộ phim Biểu hiện của một số đạo diễn người Đức.” (Chủ nghĩa Biểu hiện, Alicja Zelazko).
Với bất kỳ một ý thức hệ nào, lúc hưng trào nhưng rồi cũng tới ngày lụi tàn. Chủ nghĩa Biểu hiện cũng không nằm ngoài quy luật đó. Khởi phát vào đầu thế kỷ XXI như một phản ứng mạnh mẽ trước những biến động xã hội, chiến tranh và khủng hoảng tinh thần. Thế nhưng, khi thế giới dần chuyển mình sang những giá trị thực dụng, hiện đại và công nghệ hoá, chủ nghĩa Biểu hiện không còn giữ được vị thế trung tâm. Dù vậy, tinh thần của nó vẫn len lỏi trong hội họa, điện ảnh, văn học đương đại, như một lời nhắc nhở về khát khao diễn đạt bản thể trong thời đại hỗn độn và nhiều lớp nghĩa.
