Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Tô Ngọc Vân – Khúc biến tấu hội họa giữa bão giông lịch sử

Tô Ngọc Vân – Khúc biến tấu hội họa giữa bão giông lịch sử

Trong bầu trời mỹ thuật Việt Nam hiện đại, Tô Ngọc Vân (1906 - 1954) tỏa sáng như một ngôi sao băng rực rỡ. Là một trong "tứ kiệt" hội họa (Trí - Vân - Lân - Cẩn), ông đã vẽ nên hành trình sáng tạo đầy ấn tượng. Tô Ngọc Vân đã biến chính cuộc đời mình thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh, nơi cái đẹp hội họa hòa quyện với vẻ đẹp của lý tưởng và sự hy sinh.

Từ Phố Cổ Hàng Quạt Đến Chiến Trường Việt Bắc

Tô Ngọc Vân (1906 - 1954) chào đời trong ngôi nhà nhỏ phố Hàng Quạt, Hà Nội, nhưng dòng máu làng Xuân Cầu, Văn Giang, Hưng Yên luôn chảy trong huyết quản. Tuổi thơ ông gắn bó với đền Dâu - nơi bà nội làm nghề hầu đồng, nơi những bức tượng đa sắc và khói hương nghi lễ thắp lên ngọn lửa đam mê hội họa. Cậu bé nghèo ấy sớm bộc lộ năng khiếu khi mê mẩn vẽ tranh Thánh trên nền giấy bản. Dẫu gia cảnh túng thiếu và không có điều kiện học tập nhiều, nghị lực phi thường đã đưa ông đến cổng Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Sau lần thi trượt đầu tiên năm 1925, ông quyết tâm ôn luyện và đỗ thủ khoa khóa II (1926-1931) - khởi đầu hành trình của một trong "tứ kiệt" hội họa Việt Nam Trí - Vân - Lân - Cẩn. Năm 1931, tác phẩm Bức thư (sơn dầu) giành Huy chương Bạc tại Triển lãm Thuộc địa Paris, đưa tên tuổi chàng trai Hà Nội 25 tuổi vươn tầm quốc tế. Những năm tháng giảng dạy ở Phnôm Pênh (1935-1938) và Trường Mỹ thuật Đông Dương (1939 - 1945) đã hun đúc tài năng, chuẩn bị cho cuộc chuyển mình lớn lao của ông khi được lịch sử gọi tên.

Hành Trình Nghệ Thuật: Hai Mùa Sáng Tạo

Trước cách mạng, Tô Ngọc Vân là nhạc trưởng của vẻ đẹp tinh khôi. Tranh ông như bản tình ca về người phụ nữ Hà Thành, nơi mỗi nét cọ là lời thì thầm về nhan sắc phù du. Vào giai đoạn năm 1945, Tô Ngọc Vân bị gắn mác "họa sĩ duy mỹ" do theo đuổi vẻ đẹp hình thể. Ông tập trung vẽ chân dung người phụ nữ Việt, đặc biệt là hình ảnh người phụ nữ nông thôn chất phác, gần gũi. Thông qua những bức ký họa sống động vẽ tại quê nhà, ông ghi lại nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt. “Tranh của ông thể hiện vẻ đẹp trong trẻo, ngây thơ của tuổi thanh xuân vừa toát lên nét mạnh mẽ, kiêu hãnh của người phụ nữ. Qua từng nét vẽ tinh tế kết hợp gam màu ấm đã làm nổi bật vẻ đẹp của người phụ nữ. Các tác phẩm về người phụ nữ của ông luôn toát lên sự trân trọng, ngưỡng mộ và khát khao được bảo vệ và tôn vinh vẻ đẹp của người phụ nữ dân tộc.” (Họa sĩ Tô Ngọc Vân – Người mở lối cho hội họa hiện đại Việt Nam, Trần Thịnh). Khác với Lê Phổ hay Mai Trung Thứ – những người vẽ thiếu nữ theo lối mơ màng, phi thực – Tô Ngọc Vân luôn đặt nhân vật vào bối cảnh đời thường. Ông tuyên bố: "Cái đẹp trong tranh không phải là cái đẹp ngoài đời" – quan niệm cách tân vượt thời đại, khẳng định vai trò chủ quan của người nghệ sĩ. 

Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé, sơn dầu, 1944

Tô Ngọc Vân, Hai thiếu nữ và em bé, sơn dầu, 1944. Nguồn: Mỹ Thuật Bụi.

Sau 1945, Việt Nam bắt đầu bước vào thời kỳ kháng chiến giành lại độc lập cho đất nước, người người nhà nhà xung phong ra tiền tuyến bất kể già trẻ gái trai, bất kể xuất thân hay tôn giáo, ngành nghề và những người làm nghệ thuật cũng không ngoại lệ. Lúc đó Tô Ngọc Vân chuyển hướng sang hiện thực xã hội nhưng không từ bỏ tính thẩm mỹ. Cách mạng Tháng Tám trở thành bản lề định mệnh nghiêng đời ông sang hướng mới. Phong cách ông chuyển mình mạnh mẽ: đường nét gai góc, bảng màu đậm chất bi tráng thay thế cho nét vẽ mềm mại ngày nào. Trước đó, Tô Ngọc Vân được người đời xem là một họa sĩ có lối vẽ theo quan niệm tiểu tư sản nhưng trong những năm tháng kháng chiến, ông đã đưa ra những nhận thức mới về nền nghệ thuật của dân tộc và hoàn thành bức Hà Nội vùng đứng lên, miêu tả một người phụ nữ đẹp đang vươn lên trong cảnh khói lửa - tác phẩm đầu tiên thể hiện tinh thần quật khởi của Thủ đô bằng ngôn ngữ tạo hình hiện đại. Năm 1950, trên cương vị hiệu trưởng Trường Mỹ thuật Việt Bắc, ông đưa nghệ thuật vào lòng kháng chiến. Những chuyến đi thực tế cùng sinh viên ra chiến trường trở thành phương pháp đào tạo cách mạng. Hàng trăm ký họa ngày ấy đã ra đời trong thời khói lửa: Bộ đội nghỉ chân bên đồi ghi lại khoảnh khắc đời thường của người lính, Bủ Đường biết đọc (1954) bất tử hóa niềm vui học chữ của bà mẹ già dân tộc. Có thể nói bên trong linh hồn người họa sĩ ấy, người ta luôn nhìn thấy tình yêu quê hương sâu nặng, sẵn sàng hy sinh vì độc lập cho Tổ quốc.

Sự Hòa Giải Giữa Kỹ Thuật Tinh Tế và Tâm Thức Dân Tộc

Tô Ngọc Vân được coi là bậc thầy sơn dầu đầu tiên của Việt Nam, người biến chất liệu phương Tây thành phương tiện diễn đạt tâm hồn Á Đông. Khác với các họa sĩ cùng thời như Nguyễn Gia Trí sẽ thiên về sơn mài huyền ảo hay Nguyễn Phan Chánh chuyên sâu lụa mộc mạc, Tô Ngọc Vân tạo nên chữ ký riêng qua kỹ thuật "gạt sơn" – dùng dao loại bỏ lớp sơn trên cùng để lộ lớp màu hồng phía dưới, tạo hiệu ứng ánh sáng sống động trên da thịt nhân vật. Trong Thiếu nữ bên hoa huệ, kỹ thuật này khiến đôi má thiếu nữ ửng hồng như "nhuộm sương mai", biến bức vẽ thành "khúc giao hưởng ánh sáng". Thiếu nữ bên hoa huệ (1943) - kiệt tác dùng kỹ thuật "gạt sơn" tạo hiệu ứng ánh hồng trên gương mặt thiếu nữ, biến bức vẽ thành khúc giao hưởng ánh sáng. Tác phẩm Hai thiếu nữ và em bé (1944) - sau này được công nhận là Bảo vật Quốc gia - chứa đựng sự đồng điệu tâm hồn giữa ba thế hệ qua ngôn ngữ hình thể uyển chuyển. Ông ví đời người phụ nữ như "hoa phù dung sớm nở chóng tàn", đầy suy tư về thân phận trong xã hội cũ. Bảng màu giai đoạn này dịu dàng, thanh thoát, kết hợp hài hòa kỹ thuật sơn dầu phương Tây với cốt cách Á Đông, tạo nên phong cách độc bản không lẫn vào đâu được. Nói về họa sĩ, liệt sĩ Tô Ngọc Vân, họa sĩ Lương Xuân Đoàn, Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam nhận xét: “Những chấm nét, cách xử lý màu trong từng tác phẩm cho thấy ông thực chất là một tâm hồn Việt, mang bản sắc của người Việt. Giá trị mà danh họa Tô Ngọc Vân để lại trong từng tác phẩm cho thấy tâm hồn thanh sạch của ông được giữ trọn vẹn cho đến khi ông nằm xuống”. (Kiệt tác của danh họa Tô Ngọc Vân, Phương Uyên). 

Tô Ngọc Vân, Thiếu nữ bên hoa huệ, sơn dầu, 1943

Tô Ngọc Vân, Thiếu nữ bên hoa huệ, sơn dầu, 1943. Nguồn: Mỹ Thuật Bụi.

Ông cũng tiên phong trong việc "nặn hình bằng sáng tối", kế thừa tinh thần của Leonardo da Vinci. Như lời họa sĩ Ngô Mạnh Lân – học trò của ông: "Thầy dạy chúng tôi diễn tả khối hình trong không gian qua sự va đập của ánh sáng và bóng râm, chứ không bằng đường viền cứng nhắc". Cách xử lý ánh sáng trong Hai thiếu nữ và em bé (1944) khiến các nhân vật như tỏa ra thứ hào quang dịu dàng, gợi liên tưởng đến các bích họa Phật giáo Ajanta (Ấn Độ). Hay theo họa sĩ Lương Xuân Đoàn, “tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân ảnh hưởng lớn của nghệ thuật châu Âu hiện đại nhưng tác phẩm của ông rất thuần Việt, đường nét mềm mại và cách xử lý đĩa màu rất nhuần nhị đậm hồn Việt.” (Chuyện chưa biết về những đêm mất ngủ của họa sĩ Tô Ngọc Vân và bức tranh thành bảo vật, Thiên Điểu)

Dấu Ấn Kiến Tạo: Người Thầy - Người Mở Đường

Với tư cách hiệu trưởng sáng lập Trường Mỹ thuật Việt Nam (15/11/1945), Tô Ngọc Vân xây dựng triết lý đào tạo "nghệ thuật phục vụ nhân dân" như kim chỉ nam. Ông phá vỡ khuôn mẫu đào tạo kinh viện, biến chiến trường thành giảng đường. Tại Việt Bắc, mô hình "vừa học vừa chiến đấu" của ông đào tạo thế hệ họa sĩ cách mạng đầu tiên: Trần Văn Cẩn, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng... - những cây đại thụ sau này. Di sản giáo dục của ông được vinh danh qua Khóa Tô Ngọc Vân (1955-1957) - khóa học đầu tiên khi trường trở về Hà Nội. Họa sĩ Trần Văn Cẩn từng viết: "Chính để ghi công anh, giữ gìn kỷ niệm về anh, mà chúng tôi đã lấy tên anh đặt cho khóa học". Tại Đại hội Văn nghệ Toàn quốc 1948, ông dũng cảm tranh luận với Tổng Bí thư Trường Chinh, bảo vệ quan điểm "tranh tuyên truyền không đối lập với giá trị nghệ thuật đích thực" - cuộc đối thoại làm thay đổi nhận thức về nghệ thuật phục vụ cách mạng.

Bộ sưu tập hơn 380 ký họa kháng chiến - hiện do nhà sưu tập Thái Lan Tira Vanictheeranont bảo tồn - là kho tàng vô giá về đời sống Việt Bắc, được xuất bản trong công trình Tô Ngọc Vân - Tấm gương phản chiếu xã hội Việt Nam. Ông đặt nền móng cho dòng tranh hiện thực cách mạng tại miền Bắc. Tác phẩm Hồ Chủ tịch cùng các em nhi đồng (1953) hay loạt ký họa về nông dân cải cách ruộng đất tại Ninh Dân (Phú Thọ, 1953) khai mở đề tài lao động và chiến đấu - trở thành mạch chủ đạo trong mỹ thuật 1954-1975. Nghệ thuật của ông minh chứng: vẻ đẹp không tồn tại ngoài hiện thực, mà bừng sáng từ chính sự dấn thân của con người trong bão táp thời đại.

Tô Ngọc Vân, Hai chiến sĩ, sơn dầu, 1949

Tô Ngọc Vân, Hai chiến sĩ, sơn dầu, 1949. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Tô Ngọc Vân là cây cầu nghệ thuật nối hai thời đại: từ mỹ thuật Đông Dương sang nền nghệ thuật cách mạng non trẻ. Sự hy sinh ở đèo Lũng Lô khi đang cầm bút vẽ trở thành biểu tượng bất tử. Trong ba lô ông, hàng trăm bức ký họa dở dang thấm đẫm máu - di sản cuối cùng của người nghệ sĩ chiến sĩ. Di sản ông để lại là sự dung hợp kỳ diệu giữa tinh hoa kỹ thuật và nhiệt huyết dấn thân. Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt đầu (1996) trao cho bộ ba tác phẩm: Thiếu nữ bên hoa huệ, Hai thiếu nữ và em bé, Hà Nội vùng lên - ba kiệt tác như ba chương của cuốn tiểu thuyết đời người.

Cái tên Tô Ngọc Vân vẫn sẽ còn sống mãi vì đó chính là tượng đài của nghệ thuật chân chính, hành trình tự vấn không ngừng - hành trình bắt đầu từ ánh mắt thiếu nữ bên hoa huệ, và hóa thân vào ký ức những người lính nơi chiến hào. 

Bài trước Bài tiếp theo