Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Huỳnh Văn Thuận – Nét khắc trường tồn với nghệ thuật nước nhà (Kỳ 1)

Huỳnh Văn Thuận – Nét khắc trường tồn với nghệ thuật nước nhà (Kỳ 1)

Tại triển lãm Salon Unique cuối năm 1943, giữa nhiều tác phẩm được vẽ tinh xảo và tỉ mỉ theo phong cách mỹ nghệ bản địa, vốn đang là gu thẩm mỹ lẫn thị hiếu của người Pháp lẫn người Việt, quan Toàn quyền Đông Dương lại mua một bức tranh vẽ Thành Huế bằng sơn dầu theo hướng khác hẳn: phóng khoáng, vạm vỡ, hoàn toàn không sa vào tiểu tiết. Tác phẩm đó thuộc về một chàng sinh viên Mỹ thuật Đông Dương, người mà sau này sẽ trở thành một trong những bậc thầy mang công lao lớn với nền nghệ thuật Việt Nam.

Chân dung họa sĩ Huỳnh Văn Thuận. Nguồn: Lao động Thủ đô.

Đó là họa sĩ Huỳnh Văn Thuận, người họa sĩ có cuộc đời và sự nghiệp vô cùng thú vị: ông học trường mỹ thuật trong Nam lẫn ngoài Bắc, ông thành thạo sơn dầu phóng khoáng và cũng là bậc thầy của sơn khắc tinh xảo, ông vừa có kho tàng cá nhân ấn tượng và cũng có những tác phẩm tuyên truyền kinh điển đóng góp cho đất nước và Cách mạng. Dường như ông luôn được dẫn dắt để “đi mây về gió” giữa hai thái cực của mọi khía cạnh của việc học và làm nghệ thuật mà ông được chạm vào.

Người lĩnh hội cả hai miền hội họa

Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận, sinh ra ở xã Bình Hòa, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định (nay là khu vực Bình Thạnh, TP.HCM) vào ngày 18/10/1921 (có thông tin cho rằng ông sinh vào năm 1920). Ông sinh ra trong một gia đình không có truyền thống nghệ thuật, thế nhưng điều đó cũng không thể ngăn hạt mầm hội họa nảy nở trong ông.

Năm 15 tuổi, ông thi và đậu vào trường École de dessin de Gia Định (Trường Vẽ Gia Định, sau 1940 được đổi tên thành École des Arts Appliqués de Gia Định – Trường Mỹ nghệ thực hành Gia Định). Ông theo học tại đây từ 1936 đến 1939. Giai đoạn đó, chương trình đào tạo của Trường Vẽ Gia Định gắn nhiều với đời sống và lao động của người dân Nam Bộ, chú trọng các môn hình họa, trang trí và đặc biệt là thủ công mỹ nghệ thực tế. Nếu cho rằng một danh họa là người thành thục vẹn toàn cả hai khía cạnh nghệ nhân và nghệ sĩ thì chính trong thời gian này, ông đã lĩnh hội được sự lành nghề cần có để trở thành một bậc thầy của hội họa Việt Nam trong tương lai.

Sau 3 năm học tập tại Trường Vẽ Gia Định, ông thi và đỗ vào École Supérieure des Beaux-Arts de l’Indochine (ESBAI – Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương) tại Hà Nội.

Một số cựu sinh viên Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương về thăm trường tại Hà Nội vào năm 1993. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đứng thứ năm từ phải sang. Nguồn: Tạp chí Mỹ thuật.

Trong suốt thời gian tồn tại, Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương đào tạo tổng cộng 18 khóa, nhưng chỉ có 13 khóa là được tốt nghiệp chính thức. Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận tốt nghiệp vào năm 1944, khóa XIII (1939 - 1944), cũng là khóa cuối cùng được chính thức tốt nghiệp. Năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, nổ ra cuộc chiến tranh kéo dài. Sinh viên các khóa sau đó không thể làm bài tốt nghiệp và Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương cũng đóng cửa trong cùng năm. Trong khóa XIII của ông cũng chỉ có 6 người tốt nghiệp. Ngoài ông ra, 5 người còn lại là Nguyễn Sỹ Ngọc, Trần Đình Thọ, Nguyễn Trọng Hợp, Phạm Văn Đôn và Nguyễn Thị Kim.

Ở Hà Nội, ông học sơn dầu. Sơn dầu khai phá trong ông nét phóng khoáng khác với sự kỹ lưỡng và tỉ mỉ đã lĩnh hội ở Gia Định, đồng thời hoàn thiện thêm tư duy nghệ thuật tạo hình của ông. Từ khi chưa tốt nghiệp, ông đã sáng tác ra những bức tranh sơn dầu gây tiếng vang, như là bức “Buổi sớm ở Hàng Xanh” (1940), hay bức “Thành Huế” (1943) vừa đạt giải nhất tại triển lãm Salon Unique, vừa được quan Toàn quyền Đông Dương bấy giờ mua lại.

Huỳnh Văn Thuận, Thành Huế. Phía dưới có chú thích Toàn quyền Decoux đã mua tranh. Nguồn: Tuần báo Indochine ngày 9/12/1943, nhà nghiên cứu Loan de Fontbrune cung cấp, trích từ trang Luxuo.

Đa số họa sĩ từ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương chỉ học 5 năm chính thức. Riêng họa sĩ Huỳnh Văn Thuận, vì học cả hai trường ở hai miền, có tới 8 năm để hoàn thiện tay nghề, bút pháp lẫn tư duy nghệ thuật của mình. Ông không còn chỉ là một nghệ nhân hay một nghệ sĩ: ông là người am hiểu cả chất liệu nghệ thuật truyền thống của dân tộc lẫn tư duy hội họa hiện đại được du nhập từ phương Tây.

Đem nghệ thuật giao thoa với Cách Mạng.

Như nhiều văn nghệ sĩ cùng thời, ông cũng tham gia các phong trào sinh viên yêu nước. Ông còn tham gia cướp trại Bảo An binh tại Hà Nội vào năm 1945. Trong thời gian này, ông cũng bắt đầu sáng tác tranh cổ động. Tuy chỉ mới tốt nghiệp sơn dầu ít lâu nhưng ông lại không gắn bó với chất liệu này và sự phóng khoáng của nó. Thay vào đó, ông tìm về với sự kỹ lưỡng, tỉ mỉ và tỉa tót của sơn khắc, khắc gỗ Năm 1946, ông cùng họa sĩ Lê Phả tổ chức “Triển lãm nhóm đồ họa hai người” tại Hà Nội với các tác phẩm tranh khắc gỗ tuyên truyền cho phong trào Cách Mạng.

Sau ngày Toàn quốc kháng chiến, ông cùng nhiều nghệ sĩ khác lên chiến khu Việt Bắc để tiếp tục gắn bó với Cách Mạng. Tại đó, ông được kết nạp Đảng, về công tác tại tổ họa của Trung ương Đoàn Thanh niên. Đến giữa năm 1951, ông cùng họa sĩ Tôn Đức Lượng được giao cho phác thảo huy hiệu Đoàn Thanh niên cứu quốc. Bản phác thảo của ông – cánh tay Đoàn viên rắn rỏi, cầm chắc quốc kỳ, tiến về phía trước – đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chọn làm biểu tượng của Đoàn. Huy hiệu Đoàn thanh niên ngày nay vẫn giữ nguyên cấu trúc như thiết kế ban đầu của ông.

Mẫu huy hiệu Đoàn thanh niên do họa sĩ Huỳnh Văn Thuận thiết kế. Nguồn: Viet Art View.

Những năm tiếp theo, ông vẫn dùng tài hoa nghệ thuật của mình để đóng góp cho Cách Mạng một cách sôi nổi. Ông tiếp tục vẽ nhiều tranh cổ động và bắt đầu sáng tác một số tranh sơn khắc đề tài lao động, kiến quốc. Bên cạnh đó ông còn sáng tác tranh truyện tuyên truyền, tham gia vẽ chân dung lãnh tụ. Nhiều tác phẩm vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh của ông đã trở thành kinh điển và vẫn được sử dụng tới ngày nay. Đến năm 1953, ông cùng họa sĩ Lê Phả và họa sĩ Bùi Trang Chước được giao nhiệm vụ vẽ mẫu tiền riêng của Việt Nam.

Từ bậc thầy hội họa đến người lãnh đạo nghệ thuật

Sau khi cùng đoàn quân chiến thắng về tiếp quản Thủ đô vào năm 1954, ông bắt đầu công tác ở Ban Mỹ thuật Hội Văn nghệ Việt Nam.

Ông cũng bắt đầu tổ chức triển lãm cùng nhiều họa sĩ khác. Năm 1954, ông tham gia ban tổ chức Triển lãm Mỹ thuật Toàn quốc cùng các họa sĩ Trần Văn Cẩn, Nguyễn Đỗ Cung, Nguyễn Tiến Chung, Huỳnh Văn Gấm, Mai Văn Hiến, Nguyễn Sỹ Ngọc, Lương Xuân Nhị và Nguyễn Văn Tỵ. Trong kỳ triển lãm này vào năm 1958, tác phẩm của ông đã xuất sắc giành Giải nhất. Ông cũng đạt Giải nhì trong hai lần tham gia tiếp theo vào các năm 1960 và 1990. Năm 1956, ông đã cùng các họa sĩ đưa triển lãm Mỹ thuật Việt Nam trưng bày ở Trung Quốc, Triều Tiên, Mông Cổ.

Huỳnh Văn Thuận, Thôn Vĩnh Mốc, sơn khắc. Tác phẩm tham gia và giành giải Nhất tại Triển lãm Mỹ thuật toàn quốc 1958. Nguồn: Luxuo.

Từ một bậc thầy thành thạo cả nghệ thuật lẫn kỹ nghệ, ông không ngừng vươn lên, đấu tranh, đổi mới theo cùng nhịp đập của đất nước thời bấy giờ, cuối cùng trở thành một nhân tố quan trọng, có vị thế và tiếng nói trong hàng ngũ lãnh đạo nghệ thuật nước nhà. Năm 1956, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận cùng nhiều họa sĩ, nhà điêu khắc chuẩn bị cho Đại hội thành lập Hội Mỹ thuật Việt Nam. Đại hội đã được tổ chức từ ngày 26 đến 29/3/1957. Là một trong số 123 hội viên đầu tiên, tại Đại hội, ông được bầu vào Ban Chấp hành khóa I (1957 - 1983). Từ năm 1958, ông được Ban Chấp hành bầu làm Phó Tổng Thư ký và Phó Bí thư Đảng Đoàn của Hội Mỹ thuật Việt Nam. Năm 1966, ông nằm trong tổ sáng tác tranh cổ động của Hội Mỹ thuật Việt Nam cùng các họa sĩ Mai Văn Hiến, Huỳnh Văn Gấm để đẩy mạnh sáng tác loại hình nghệ thuật này.

Đầu năm 1975, ông cùng với các họa sĩ Trần Văn Cẩn, Nguyễn Văn Tỵ, Hoàng Minh Hằng, Tạ Diệu Hương, Lê Văn Tài đi chiến dịch Hồ Chí Minh theo đường Trường Sơn đến Buôn Mê Thuột. Khi chiến dịch vừa kết thúc, ông cùng các họa sĩ đã tham gia vẽ chân dung, vẽ tranh cổ động, lễ đài cho ngày lễ chiến thắng.

Trọn đời cống hiến cho nghệ thuật nước nhà

Khi tham gia đoàn quân tiếp quản thành phố Sài Gòn vào năm 1974, ông được bầu làm Cục trưởng Cục Mỹ thuật miền Nam. Sau ngày đất nước hòa bình, ông làm Trưởng ban Mỹ thuật Bộ Văn hóa và Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) từ năm 1977 đến năm 1979. Ông giữ chức Phó Tổng thư ký Hội Mỹ thuật Việt Nam cho đến năm 1983, sau đó được bổ nhiệm làm Phó Chủ tịch Hội Mỹ thuật Việt Nam trong giai đoạn 1983–1989. Sau khi về hưu, ông dành thời gian cho gia đình và để chăm sóc vợ. Những năm gần cuối đời, ông chuyển vào TP.HCM để sống cùng con trai. Ông vẫn dành nhiều suy tư, trăn trở cho nghệ thuật và tác phẩm trong những ngày tháng sau cùng của mình.

Tranh cổ động của họa sĩ Huỳnh Văn Thuận mừng 110 năm ngày sinh Bác Hồ. Nguồn: VOV.

Trong suốt cuộc đời và quá trình hoạt động Cách Mạng, nghệ thuật, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đã được trao tặng vô số huân chương và giải thưởng, tiêu biểu như Huân chương Độc lập hạng Ba, Huân chương Kháng chiến hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mĩ cứu nước hạng Nhất. Năm 2001, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I.

Vào 18/10/2017, họa sĩ Huỳnh Văn Thuận từ giã cõi đời ở tuổi 97, khép lại hành trình 81 năm học, làm nghề và đóng góp cho nền mỹ thuật nước nhà.

Họa sĩ Huỳnh Văn Thuận đã dùng trọn vẹn tài hoa của mình để phục vụ cho đất nước lẫn nền nghệ thuật Việt Nam. Nói đến tài năng của ông, giới nhà nghề ai cũng phải ngả mũ thán phục, bới ít ai có thể vừa là một nghệ sĩ hội họa bậc thầy, vừa là một người thợ mỹ nghệ thượng thừa. Hai thái cực này trong bút pháp của ông vừa bổ sung cho nhau mà cũng vừa có những nét riêng độc đáo.

Mời các bạn đón đọc kỳ 2 của loạt bài viết về họa sĩ Huỳnh Văn Thuận để tìm hiểu thêm về phong cách hội họa của ông!

Bài trước Bài tiếp theo