Chuyển đến nội dung
Ngôn ngữ/
Trương Lộ, Hổ, thuỷ mặc, 70 x 70 cm, 2018

Họa sĩ Trương Lộ – Thư họa đồng nguyên và dòng tranh thủy mặc Việt Nam

Nương theo dòng chảy lịch sử, trở về với những cốt lõi nhân sinh trong nghệ thuật, ta thấy ở đó hiện lên những nét đẹp thầm lặng mà sâu sắc với một sự chuyển giao nghệ thuật mang đậm dấu ấn của sự bản địa hóa trên đôi vai của một người cầm cọ. 

Thư pháp đi đôi với Họa pháp - Biểu hiện sâu sắc trong cảm nhận nghệ thuật

Trương Lộ là bậc thầy thư pháp và tranh thủy mặc. Và sau các bài báo phỏng vấn mình, ông cũng đã chia sẻ rằng mình có đam mê và tiếp xúc hội họa và thư pháp từ nhỏ. Trương Lộ là một trong số rất ít những họa sĩ am hiểu và có thể sáng tác tất cả các trường phái tranh thủy mặc cũng như am hiểu cổ văn cũng như kim văn trong thư pháp. Và chắc chắn, điều này không phải là sự trùng hợp hay ngẫu nhiên, đó là một sự gắn bó và cộng hưởng sâu sắc trong nghệ thuật Quốc họa Trung Hoa hay người ta sẽ thường hay gọi là “Thư họa đồng nguyên”. Cụm từ này có thể được lí giải dưới nhiều góc độ. Về căn bản, bút, nghiên, giấy, mực là những đồ dùng không thể thiếu của một người viết chữ và trong hội hoạ cũng vậy. Viết được thư pháp sẽ vẽ được tranh vì nguồn gốc của thư pháp Hán được cấu tạo nên bởi các pháp như tượng hình, chuyển chú, giả tá, hài thanh, hội ý, chỉ sự,… Tức là viết một chữ như mắt, cũng viết giống như đang vẽ một con mắt, viết một chữ núi (sơn) cũng tượng hình ngọn núi sao cho con chữ. Và đó là lí do vì sao khi xem tranh thủy mặc, tranh thư pháp đời Đường, đời Tống, đời Minh, ta có cảm giác như đang được thưởng thức một bài thơ cổ từ quá khứ xa xưa vọng lại lẫn trong tiếng lục huyền cầm trầm đục rung vào hư không.

Trương Lộ, Hổ, thuỷ mặc, 70 x 70 cm, 2018

Trương Lộ, Hổ, thuỷ mặc, 70 x 70 cm, 2018. Nguồn: Thuỷ Mặc.

Và tất nhiên, là một nhân vật kì cựu của dòng chảy nghệ thuật ấy, Trương Lộ cũng không ngoại lệ. Bởi vì trong những tác phẩm của ông, từ đường nét, gam màu, hình khối của tranh thủy mặc và những con chữ của thư pháp đều mang tính triết lý sâu sắc mà ông học được từ các bậc tôn sư của mình. “Có lẽ câu “Trung thi hữu họa, trung họa hữu thi” nghĩa là trong thơ có họa và trong họa có thơ rất đúng với họa sĩ Trương Lộ trong sáng tạo tác phẩm hội họa và thư pháp. Tác phẩm của ông dù là tranh thủy mặc hay thư pháp đều toát lên sự kết hợp tinh tế, tài hoa giữa hai trường phái “họa” và “thư”. Bằng bút pháp điêu luyện, từ hai mảng tách biệt ấy, ông đã hòa chung thành một, tạo nên những tác phẩm “họa” và “thư” hài hòa, chặt chẽ về bố cục, trọn vẹn về ngữ nghĩa, giàu tính triết lý.” (Nghệ nhân Nhân dân Trương Lộ: Bậc thầy thư pháp và tranh thủy mặc, Lương Định). 

Dấu ấn thư pháp - Bút khởi cho một hành trình dài

Thư pháp khác hội họa ở chỗ nó chỉ gồm nét, không gian và chủ có hai màu trắng - đen. Muốn một tác phẩm thư pháp đẹp cả về hình thức, nội dung hay ngữ nghĩa cần phải có sự tìm tòi, sáng tạo và chiêm nghiệp không ngừng. “Trong lĩnh vực nghệ thuật thư pháp hiện nay ở Chợ Lớn, chỉ có thư pháp gia, họa sĩ, Nghệ nhân Nhân dân Trương Lộ định hình được một phong cách đặc biệt độc đáo. Ông đã biến giới hạn của nghệ thuật thư pháp thành vô hạn của không gian với những tác phẩm như “rồng bay, phượng múa”, “bút ca mực vũ”…” (Nghệ nhân Nhân dân Trương Lộ: Bậc thầy thư pháp và tranh thủy mặc, Lương Định). Vào tháng 3/2021, họa sư đã tổ chức triển lãm cá nhân với 95 tác phẩm thư pháp do ông sáng tạo. Trong không gian đậm màu sắc học thuật đó, người ta thấy vô vàn các thể loại từ chữ khó nhất như đại triện với giáp cốt, kim văn và tiểu triện cho tới chữ phổ thông với hành, lệ, thảo, khải đã được ông thể hiện thật điêu luyện, tinh tế, giàu cảm xúc bằng chữ Nôm, Hán. Trên những tác phẩm, ta có thể cảm nhận được triết lí “Phật - Đạo - Đời” của những bậc danh ngôn thời đại như Lý Thái Tông, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du,... Trương Lộ tâm sự: “Thư pháp sáng tác, gần với hội họa trừu tượng, tôi phải học hiểu nhiều thể loại chữ, mới đủ kỹ thuật, đủ bút pháp để sáng tác. Sáng tác trong thư pháp chính là việc dụng nét, biến nét, biến không gian, bố cục tác phẩm theo cách của mình, nhưng không làm mất đi cái nguyên bản của chữ và nghĩa” (Trương Lộ: Chất “họa” trong nghệ thuật thư pháp, Lam Phong)

Trương Lộ, Chuyến đò quê hương, thuỷ mặc, 90 x 130 cm, 2012

Trương Lộ, Chuyến đò quê hương, thuỷ mặc, 90 x 130 cm, 2012. Nguồn: Thuỷ Mặc.

Trương Lộ là một họa sĩ, cũng là một người thầy và đồng thời cũng là một bác nhân. Ông nghiên cứu sâu về tư tưởng học thuật của Đạo gia, thiền phái của Phật gia và duy thức lượng của Duy thức tâm. Chính vì thế, đằng sau những tác phẩm thư pháp, Trương Lộ mang vào đó những bài học, những tư duy đạo đức, tâm tư truyền đời cho những người thưởng ngoạn. Và đặc sắc thay, những tư tưởng đẹp đó cho tới ngày nay vẫn tiếp tục được vận dụng vào nhịp sống hiện đại, trao đi giá trị cao đẹp cho thế hệ tiếp nối ông. Hay như anh Trương Anh Tiến, khi nhận xét về người thầy Trương Lộ đáng kính của mình cũng đã nói: “Đường nét thư pháp chỉ là không gian trắng và đen nhưng hàm chứa trong đó là cả nghĩa lý âm dương, biến hóa của đạo lớn, “sinh sinh chi hóa”. Vậy mới thấy công việc khổ học và truyền thừa văn hóa của Thầy là một hành trình cô độc trong bối cảnh trời chiều đường xa vắng bạn.” (Ân sư – Thư họa gia Trương Lộ và triển lãm thư pháp phật đạo nho, Trương Anh Tiến). 

Trương Lộ và dấu ấn riêng trong Lĩnh Nam họa phái

Tranh thủy mặc hay còn gọi là tranh thủy mạc, là một loại tranh cổ tuyệt đẹp bắt nguồn từ Trung Quốc và người ta thường biết tới nó với một cái tên mỹ miều hơn là quốc họa Trung Hoa. Lĩnh Nam họa phái thuộc về trường phái cách tân trong hội họa truyền thống Trung Hoa, hình thành ở Quảng Đông vào cuối đời Thanh, người sáng lập chính thức gồm Cao Kiếm Phụ, Cao Kỳ Phong và Trần Thụ Nhân. Phong cách cách tân độc đáo trong các tác phẩm thủy mặc của “nhị Cao nhất Trần” nổi bật khiến họ được gọi là "Lĩnh Nam tam kiệt", sau đó hình thành nên "Lĩnh Nam họa phái" (Một họa sĩ nổi danh của làng tranh thủy mặc). “Lĩnh Nam” lấy chủ trương “dung hợp cổ kim”, lấy “đổi mới” làm tôn chỉ, kết hợp tinh hoa của hội họa truyền thống Trung Hoa, Nhật Bản và trường phái Ấn tượng phương Tây để tạo nên sự cách tân trong hội họa truyền thống Trung Hoa. Vì vậy, những tác phẩm của họa phái này không dừng lại ở việc mô phỏng cổ nhân mà truyền vào đó dấu ấn, hơi thở thời đại. 

Trương Lộ, Di Lạc, thuỷ mặc, 70 x 70 cm

Trương Lộ, Di Lạc, thuỷ mặc, 70 x 70 cm. Nguồn: Thuỷ Mặc.

Theo dòng chảy di cư của người Hoa vào Chợ Lớn, tại đây vào những năm giữa thế kỷ hai mươi, danh họa thủy mặc Lương Thiếu Hằng đã sáng lập trường Đông Phương Nghệ Uyển, cái nôi của nhiều thế hệ họa sĩ tranh thủy mặc tài danh. Về sau, nhiều thế hệ tiếp nối của Lĩnh Nam họa phái bắt đầu được chú ý nhiều hơn và lan rộng. Vào những năm 60, 70 của thế kỉ trước là thời kì nở hoa của hội họa thủy mạc ở Việt Nam. Trương Lộ cũng là một họa sĩ chịu ảnh hưởng của trường phái Lĩnh Nam. Thế nhưng trước khi thật sự bước vào trường phái này, Trương Lộ cũng được học những điều cơ bản cốt lõi nhất của tranh thủy mặc. Đó là các tác phẩm thủy mạc theo kiểu cổ điển, với các đề tài tứ bình, tứ thời, các tích truyện vẽ nên từ tiểu thuyết chương hồi cổ điển, sách thánh hiền, những đề tài truyền thống được xem là chuẩn mực của tranh thủy mặc.

Về sau, với một lòng yêu những khung cảnh đời thực cũng như bức tranh về cuộc sống sinh hoạt của người dân, tranh thủy mặc của họa sư Trương Lộ bắt đầu mang đậm hơi thở của thời đại và dấu ấn Việt. Sự bản địa hóa đã khiến cho chất liệu xã hội Việt Nam đương đại đến gần hơn với ông một cách tự nhiên và chạm sâu nhất. Có lẽ bởi vì dành thời gian nhiều để đi các chuyến đi thực tế khắp các vùng miền để có cái nhìn chân thực nhất mà tranh vẽ cảnh vật của Trương Lộ nhìn rất sống động. Người ta có thể cùng thở và cùng đang sống trong những nhịp sống đời thường qua chuỗi tranh về đề tài Chợ Lớn của ông. Đó có thể là hình ảnh những con thuyền tấp nập là một Bình Đông nhộn nhịp hay con kênh soi bóng những mái nhà san sát, phía xa là đại lộ rộng lớn đầy người qua lại, và thấp thoáng đâu đó là hình ảnh chợ Bình Tây xưa cũ. Nó không hề cầu kì, chất liệu vô cùng đơn giản nhưng tinh thần của nó lại hiện ra mồn một qua từng đường nét, màu sắc và cả lối làm chủ “mạc vận” - nét loang của mực. Hoặc cũng có thể là những ngôi làng của người dân tộc thiểu số, với những nét đẹp trong trang phục cũng như tính cách thật thà, một cuộc sống hài hòa và yên bình hiện ra với nụ cười trẻ thơ ngây ngô, tách biệt hẳn với sự nhộn nhịp nơi phố thị trong cách tác phẩm “Chợ Hà Giang”, “Em bé Hà Giang”, “Miền quê chân chất”. 

Trương Lộ, Ăn chuối, thuỷ mặc, 140 x 70 cm

Trương Lộ, Ăn chuối, thuỷ mặc, 140 x 70 cm. Nguồn: Thuỷ Mặc.

Để tạo ra được cái hồn, và cái tâm trong từng tác phẩm ấy là một quá trình rèn luyện gian khổ và tự phản chiếu tìm ra lối đi cho riêng mình. Trước tiên phải kể đến lối dùng công bút vô cùng tinh tế của ông. Ông đã từng chia sẻ rằng ông “sử dụng kỹ thuật thư pháp, có thủ bút, hành bút, thu bút rõ ràng nên cách biểu đạt cũng sẽ khác so với ký họa thông thường” (Chợ Lớn đời thường trong tranh của Trương Lộ, Nguyễn Đình). Bên cạnh đó còn có cả thủ thuật “ý bút”, rồi “bán công ý” như neo giữ lại trong tranh cảm xúc của một người đã sinh ra và lớn lên trong đó, công lực mà họ đã luyện tập và tu dưỡng, và cả những nội hàm chắc chắn của một trái tim yêu thiên nhiên, yêu cảnh vật quanh mình đến say đắm và sâu đậm như vậy. 

Càng tìm hiểu sâu hơn về thư họa gia Trương Lộ lại càng cảm thấy sự cải tiến trong tư duy làm nghệ thuật của ông. Sẽ lại càng nhớ mãi những trăn trở của ông về tương lai của thủy mặc Việt Nam hiện đại: “Làm sao phải để giảm bớt cái tục lễ tân theo cái thanh nhã dù đúng là mình vẽ cuộc sống hiện đại là đương nhiên có cái tục ở trong, như cần phải giảm bớt nó. Đó là nguyện vọng của tôi đối với lớp hậu bối, họ cần phải làm được điều đó.”

Bài trước Bài tiếp theo