Paul Gauguin – Trường phái Pont-Aven
Pont-Aven là nhóm nghệ thuật được sáng lập bởi Paul Gauguin – bước đầu giúp Gauguin trở thành người tiên phong trong Chủ nghĩa Biểu tượng. Ông luôn có một khao khát mãnh liệt với việc rời xa xã hội phương Tây và trở về với cuộc sống nguyên thủy, nguyên bản và tự nhiên hơn. Có lẽ niềm khao khát ấy đã tạo nên một nghệ thuật của Gauguin được giải phóng khỏi các quy tắc học thuật và các khái niệm rập khuôn được đặt ra bởi các tiền bối Ấn tượng.
Sau thời gian ở Martinique, vào năm 1888, ông định cư tại thị trấn Pont-Aven của Breton, một ngôi làng miền núi được bao quanh bởi rừng, nơi ông tìm thấy sự yên tĩnh và nguồn cảm hứng cho nghệ thuật của mình. Sau đó, Gauguin đã bắt đầu đã tập hợp một nhóm nghệ sĩ từ năm 1888 đến năm 1894. Các thành viên chính của phong trào, ngoài Gauguin, còn có Émile Bernard – học trò xuất sắc của Gauguin, Louis Anquetin, Charles Filiger, Armand Seguin, Charles Laval, Émile Schuffenecker, Henry Moret, người Hà Lan Meijer de Haan và người Thụy Sĩ Cuno Amiet.

Émile Bernard, Breton Women in a Green Pasture (Những người phụ nữ Bretagne trên đồng cỏ xanh), 1888. Nguồn: Bảo tàng Musée d'Orsay, Paris, Pháp.
Tại đây, những tinh tuý của trường phái Ấn tượng không chỉ được kế thừa mà thậm chí Gauguin và những người học trò của mình đã phát triển nó trở thành Chủ nghĩa nguyên thủy và bị ảnh hưởng từ nghệ thuật thời Trung cổ (thảm, kính màu và men). Những nghệ sĩ này đã phát triển một kỹ thuật cloisonnism (theo kỹ thuật tráng men cloisonné), đặc trưng bởi việc sử dụng các mảng màu mịn được giới hạn bởi các đường viền tối. Nói đúng hơn, đây chính là sự trở về với nguồn cội. Bởi lẽ, không ai lại “phát triển” để trở về “nguyên thuỷ” cả!
Thậm chí nghệ thuật Nhật Bản cũng được nhóm này sử dụng thường xuyên trong quá trình sáng tác nghệ thuật. Các nghệ sĩ muốn khiến tác phẩm của mình trông xa lạ và tách rời với chủ nghĩa tự nhiên càng nhiều càng tốt. Chính Gauguin cũng là một trong những nghệ sĩ bị ảnh hưởng mạnh mẽ mở nghệ thuật ngoại lai du nhập vào phương Tây này.
Ngoài ra, một trường phái khác phát triển từ cái nôi Tượng trưng là Chủ nghĩa Tổng hợp. Lúc này, việc sao chép từ thiên nhiên được đơn giản hoá bởi hình thức tối giản và trí nhớ của nghệ sĩ được tận dụng một cách tối đa. Phong trào này được nhà phê bình Albert Aurier lan truyền và đạt đến đỉnh cao trong triển lãm mang tên “Các họa sĩ Biểu tượng và Tổng hợp” được tổ chức tại Café Volpini ở Paris vào năm 1889.

Paul Gauguin, Vision After the Sermon (Tầm nhìn sau bài giảng), 1888. Nguồn: Phòng trưng bày Quốc gia Scotland.
Hai tác phẩm trở thành tuyên ngôn của nhóm này là “Tầm nhìn sau bài giảng” của Gauguin và “Những người phụ nữ Bretagne trên đồng cỏ xanh” của Bernard. Tác phẩm sau đã tổng hợp những tinh túy của phong cách mới: tính cụ thể về chủ đề – tầm nhìn về một cảnh tôn giáo được gợi ý bởi bài giảng và những người phụ nữ chiêm nghiệm tất cả trên cùng một mặt phẳng – màu sắc thuần khiết, đường nét rõ ràng và không có sự tạo hình. Tính cụ thể và sự đơn giản hóa các yếu tố cấu thành của bức tranh đã khiến xu hướng mới này được đặt tên là chủ nghĩa tổng hợp. Trong xu hướng này, quan sát, trí nhớ, trí tưởng tượng và cảm xúc là những yếu tố thiết yếu của một bức tranh đối với Gauguin, ngoài hình thức và màu sắc, được xử lý một cách tự do, biểu cảm.
Nhưng dù là cái tên trường phái Tổng hợp hay Chủ nghĩa Tượng trưng thì các nghệ sĩ đều đang đi ngược lại với quy tắc của trường phái Ấn tượng và chuyển trọng tâm từ việc ghi nhận thế giới bên ngoài sang việc kiến tạo một thực tại nội tâm.
Edvard Munch
Edvard Munch được biết đến là một nghệ sĩ theo đuổi đa phong cách. Tuy nhiên, không thể phủ nhận đây là một trong những cái tên tiêu biểu của trường phái Tượng trưng ở Bắc Âu. Tác phẩm của Munch thường phản ánh những nỗi lo lắng hiện sinh, thể hiện rõ ảnh hưởng của triết học Nietzsche. Sáng tác của ông thường xoay quanh những nỗi ám ảnh cá nhân về tình yêu và tình dục, cũng như quan niệm của ông về xã hội như một môi trường thù địch và áp bức.

Edvard Munch, The Sick Child (Đứa trẻ ốm yếu), 1907. Nguồn: Bảo tàng Tate Modern, London, Anh.
Sau những bước khởi đầu trong chủ nghĩa tự nhiên và trường phái Ấn tượng, bức tranh “Đứa trẻ ốm yếu” (1885) đánh dấu con đường cá nhân nhất của ông, thể hiện thông qua những cảm xúc sâu sắc. Tác phẩm này được cho là tiệm cận nhất với mục tiêu “mổ xẻ tâm hồn bên trong” của Munch.
Trong chuyến đi đến Paris năm 1889, Munch được truyền cảm hứng và chịu ảnh hưởng lớn bởi Van Gogh. Tuy nhiên, Van Gogh có lẽ chỉ mới là điều kiện cần. Chính việc đứng giữa một thành phố lớn với những đại lộ thẳng tắp trong chuyến đi đó, mới khiến ông có hứng thú sáng tác một loạt tác phẩm về nỗi cô đơn của con người giữa đám đông: Hoàng hôn trên phố Karl Johan, 1892, Bảo tàng Nghệ thuật Bergen, Bergen; Tiếng thét, 1893, Phòng trưng bày Quốc gia Na Uy, Oslo; Nỗi lo lắng, 1894, Bảo tàng Munch, Oslo.

Edvard Munch, Anxiety (Nỗi lo lắng), sơn dầu trên toan, 1894. Nguồn: Bảo tàng Munch, Oslo, Na Uy.
Dần dà, Munch chuyển từ lối vẽ hiện thực sang thể hiện cảm xúc bằng hình ảnh. Màu sắc trong tác phẩm không còn miêu tả mà mang tính biểu tượng, trở thành ngôn ngữ của sự biểu đạt nội tâm. Đường nét đôi khi cong, nhịp nhàng và uốn lượn, đôi khi lại thẳng tắp. Còn bầu không khí thì được biến đổi thành những cơn lốc xoáy dữ dội bao trùm các nhân vật để nhấn mạnh nỗi cô đơn của những nhân vật chính.
James Ensor
James Ensor – một nghệ sĩ Tượng trưng theo đuổi phong cách nghệ thuật điên cuồng và không có quy tắc. Tác phẩm của Ensor mang tính cuồng nhiệt, thể hiện một tinh thần hiện đại cấp tiến – như lời tiên đoán cho nghệ thuật tiên phong ở tương lai: hình thức không còn phản ánh trực tiếp nội dung, mà chỉ hé lộ, gợi mở làm lộ ra nội tâm. Những hình ảnh bị bóp méo, chất chứa sự đào sâu tâm lý mạnh mẽ, với bảng màu tùy ý, chói gắt, đầy bất hòa, cùng những hiệu ứng ánh sáng gây choáng ngợp là những gì thường thấy ở nghệ thuật của Ensor. Như chính ông từng nói: “Một đường nét đúng mực không thể khơi gợi những cảm xúc cao cả, cũng không thể diễn tả nỗi đau, sự đấu tranh, nhiệt huyết, bất an hay chất thơ.”

James Ensor, Christ’s Entry into Brussels (Chúa Kitô tiến vào Brussels), 1889. Nguồn: Bảo tàng Getty, Los Angeles, Hoa Kỳ.
James Ensor đã tạo ra thế giới đầy cảm hứng như vậy từ cửa hàng bán đồ lưu niệm của gia đình. Ngay từ nhỏ, ông đã được tiếp xúc rất sớm với các vật dụng như mặt nạ, rối, đồ chơi, vỏ sò, hóa thạch, đồ sứ và đồ cổ. Ngoài ra, sự quan tâm dành cho khoa học, đặc biệt là thế giới vi mô, cũng thể hiện rõ trong các tác phẩm nghệ thuật.
Chính bối cảnh lớn lên trong sự hoài niệm khiến tranh của Ensor luôn xoay quanh chủ đề dân gian. Thông qua lăng kính phi lý và hài hước châm biếm, ông chuyển thể chủ đề khó nhằn này thành những cảnh tượng bí ẩn và có phần hơi bất kính. Các nhân vật lang thang, say xỉn, những bộ xương hay mặt nạ và cảnh lễ hội thường toát lên vẻ chua cay bởi sự “hài hước” của Ensor.
Trong tác phẩm “Chúa Kitô tiến vào Brussels” (1888, Bảo tàng Getty, Los Angeles), Ensor đã miêu tả cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu giữa một cuộc diễu hành lễ hội, một tác phẩm gây ra vụ bê bối lớn vào thời điểm đó. Có thể nói, đây là một cách thể hiện có phần táo bạo và có cái nhìn kỳ quặc về xã hội châu Âu thời bấy giờ. Vì vậy, nhóm Les Vingt đã không dám phê duyệt đơn xin gia nhập của Ensor. Có lẽ những người lãnh đạo nhóm này có phần sợ hãi trước cái tôi quá mạnh mẽ của vị nghệ sĩ này chăng?
